23/09/2021 07:58Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Vô gia biệt
無家別

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 17/06/2005 12:38

 

Nguyên tác

寂寞天寶後,
園廬但蒿藜。
我裡百餘家,
世亂各東西。
存者無訊息,
死者為塵泥。
賤子因陣敗,
歸來尋舊蹊。
久行見空巷,
日瘦氣慘悽。
但對狐與狸,
豎毛怒我啼。
四鄰何所有?
一二老寡妻。
宿鳥戀本枝,
安辭且窮棲。
方春獨荷鋤,
日暮還灌畦。
縣吏知我至,
召令習鼓鼙。
雖從本州役,
內顧無所攜。
近行止一身,
遠去終轉迷。
家鄉既蕩盡,
遠近理亦齊。
永痛長病母,
五年委溝溪。
生我不得力,
終身兩酸嘶。
人生無家別,
何以為蒸黎!

Phiên âm

Tịch mịch Thiên Bảo hậu,
Viên lư đãn cao lê.
Ngã lý bách dư gia,
Thế loạn các đông tê.
Tồn giả vô tiêu tức,
Tử giả vị trần nê!
Tiện tử nhân trận bại,
Quy lai tầm cựu khê.
Cửu hành kiến không hạng,
Nhật sấu khí thảm thê!
Đãn đối hồ dữ ly,
Thụ mao nộ ngã đề.
Tứ lân hà sở hữu?
Nhất nhị lão quả thê.
Túc điểu luyến bản chi,
An từ thả cùng thê.
Phương xuân độc hà xừ,
Nhật mộ hoàn quán khuê.
Huyện lại tri ngã chí,
Triệu linh tập cổ bề.
Tuy tòng bản châu dịch,
Nội cố vô sở huề.
Cận hành chỉ nhất thân,
Viễn khứ chung chuyển mê.
Gia hương ký đãng tận,
Viễn cận lý diệc tề.
Vĩnh thống trường bệnh mẫu,
Ngũ niên uỷ câu khê!
Sinh ngã bất đắc lực,
Chung thân lưỡng toan tê!
Nhân sinh vô gia biệt,
Hà dĩ vi chửng lê?

Dịch nghĩa

Cảnh tiêu điều sau năm Thiên Bảo
Nhà vườn toàn là cỏ dại
Xóm mình có hơn trăm nhà
Gặp đời loạn, mỗi người đi một phương
Người còn không tin tức gì
Người chết biến thành bụi đất
Thân hèn vì thua trận
Tìm lối cũ quay về
Đi mãi chỉ thấy ngõ vắng
Ánh nắng thoi thóp, cảnh tượng thê lương!
Trước mắt chỉ thấy cáo cùng cầy
Xù lông nhìn ta gầm gừ, giận dữ
Bốn bề hàng xóm còn gì đâu?
Một vài bà già goá bụa
Chim ngủ mến cành quen
Đâu dám ngại, đành nương náu với nghèo khổ!
Giữa mùa xuân thui thủi vác cuốc
Chiều tối vẫn tát nước ngoài đồng
Bọn nha lại trên huyện biết mình về
Gọi gắt đi tập trống trận
Tuy chỉ phục dịch trong châu nhà
Nhìn lại chẳng có người nào
Đi gần chỉ có một thân
Đi xa cuối cùng lạc lối!
Quân nhà đã sạch sành sanh
Dù xa hay gần thì cũng thế
Xót thương vô cùng, mẹ già ốm lâu năm
Chết đã năm năm rồi vẫn vùi bên khe lạch
Sinh ra mình mà chẳng được nhờ
Suốt đời mẹ con đều chua xót!
Ðời người đến nỗi không có nhà mà từ biệt
Thực làm kẻ dân đen cũng không đang.

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Quạnh quẽ sau Thiên Bảo
Vườn lều chỉ cỏ gai!
Làng tôi dư trăm nhà
Thời loạn tản đông tây
Người còn không tin tức
Người chết lấp bùn lầy
Thằng tôi nhân thua trận
Tìm lối cũ về đây
Ði hoài thấy ngõ trống
Buồn tênh bóng nắng gầy!
Chỉ gặp chồn với cáo
Xù lông khịt doạ tôi
Quanh làng gì đâu có?
Bà goá một đôi người
Chim còn mến cành cũ
Ðậu khổ vẫn không rời
Mùa xuân, riêng vác cuốc
Tối, còn tưới nương soi
Viên huyện hay tôi về
Ra lính, đã cho đòi
Tuy làm lính trong hạt
Trong nhà không còn ai
Ði gần riêng lủi thủi
Ði xa biệt mù khơi
Quê nhà đà hết sạch
Xa gần cũng thế thôi!
Xót mẹ nỗi đau ốm
Vùi xác năm năm rồi
Sinh tôi chẳng được gì
Suốt đời hận cả đôi
Người không nhà mà biệt
Sao gọi được là người?
(Năm 759)

Ba bài thơ Tân hôn biệt 新婚別, Thuỳ lão biệt 垂老別 và Vô gia biệt 無家別 được gọi là Tam biệt 三別.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Vô gia biệt