30/11/2020 13:21Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Vũ Lăng xuân - Vãn xuân
武陵春-晚春

Tác giả: Lý Thanh Chiếu - 李清照

Thể thơ: Từ phẩm; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Nam Tống, Kim
Đăng bởi Vanachi vào 08/07/2005 17:40

 

Nguyên tác

風住塵香花已盡,
日晚倦梳頭。
物是人非事事休,
欲語淚先流。

聞說雙溪春尚好,
也擬泛輕舟。
只恐雙溪舴艋舟,
載不動、許多愁。

Phiên âm

Phong trú trần hương[1] hoa dĩ tận,
Nhật vãn quyện sơ đầu.
Vật thị nhân phi sự sự hưu,
Dục ngữ lệ tiên lưu.

Văn thuyết Song Khê[2] xuân thượng hảo,
Dã nghĩ phiếm khinh châu.
Chỉ khủng Song Khê trách mãnh châu,
Tái bất động, hứa đa sầu.

Dịch nghĩa

Gió lặng, bụi thơm, hoa rụng hết,
Ngày tàn, mệt mỏi chải đầu.
Vật như xưa, người đã khác, mọi sự đều thôi rồi
Muốn nói, nước mắt đã tuôn trào.

Nghe nói ở Song Khê mùa xuân còn đẹp,
Cũng định dong chiếc thuyền nhỏ du lãm.
Chỉ sợ những chiếc thuyền nhỏ nhẹ ở Song Khê
Chở không nổi quá nhiều nỗi buồn.

Bản dịch của Nguyễn Chí Viễn

Gió lắng hương trần hoa đã hết,
Dậy muộn chải đầu lười.
Vật đổi sao dời mọi việc thôi,
Chưa nói lệ tuôn rồi.

Nghe nói Song Khê xuân vẫn đẹp,
Cũng định thả thuyền chơi.
Chỉ sợ Song Khê thuyền nhỏ nhoi,
Sầu nhiều thuyền chở không trôi.
Theo Du Chính Loan trong Quý Tị loại cảo, bài từ này làm năm Thiệu Hưng thứ 4 (1134) khi tác giả tị loạn về Kim Hoa, với nội dung nhớ quê cũ khi ở nơi đất khách quê người thời loạn.

Nguồn: Nguyễn Chí Viễn, Tuyển tập từ Trung Hoa - Nhật Bản, NXB Văn hoá - Thông tin, 1996
[1] Là hoa xuân đã héo rụng. Ở đây ý nói hoa rụng xuống đất, mùi hương của hoa từ trong đất bụi bay lên, biết là đã hết mùa hoa.
[2] Một con suối thuộc huyện Kim Hoa, tỉnh Chiết Giang, phong cảnh đẹp, nhiều thi nhân đến đó ngâm vịnh.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Lý Thanh Chiếu » Vũ Lăng xuân - Vãn xuân