18/10/2021 14:59Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Phụng tặng Vi tả thừa trượng nhị thập nhị vận
奉贈韋左丞丈二十二韻

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 27/10/2005 12:13

 

Nguyên tác

紈绔不餓死,
儒冠多誤身。
丈人試靜聽,
賤子請具陳。
甫昔少年日,
早充觀國賓。
讀書破萬捲,
下筆如有神。
賦料揚雄敵,
詩看子建親。
李邕求識面,
王翰願卜鄰。
自謂頗挺出,
立登要路津。
致君堯舜上,
再使風俗淳。
此意竟蕭條,
行歌非隱淪。
騎驢三十載,
旅食京華春。
朝扣富兒門,
暮隨肥馬塵。
殘杯與冷炙,
到處潜悲辛。
主上頃見徵,
欻然欲求伸。
青冥卻垂翅,
蹭蹬無縱鱗。
甚媿丈人厚,
甚知丈人真。
每于百寮上,
猥誦佳句新。
竊效貢公喜,
難甘原憲貧。
焉能心怏怏,
只是走踆踆。
今欲東入海,
即將西去秦。
尚憐終南山,
迴首清渭濱。
常擬報一飯,
況懷辭大臣。
白鷗沒浩蕩,
萬里誰能馴?

Phiên âm

Hoàn khoá bất ngã tử,
Nho quan đa ngộ thân.
Trượng nhân thí tĩnh thính,
Tiện tử thỉnh cụ trần.
Phủ tích thiếu niên nhật,
Tảo sung quan quốc tân.
Độc thư phá vạn quyển,
Hạ bút như hữu thần.
Phú liệu Dương Hùng[1] địch,
Thi khan Tử Kiến[2] thân.
Lý Ung[3] cầu thức diện,
Vương Hàn[4] nguyện bốc lân.
Tự vị phả dĩnh xuất,
Lập đăng yếu lộ tân.
Trí quân Nghiêu, Thuấn thượng,
Tái sử phong tục thuần.
Thử ý cánh tiêu điều,
Hành ca phi ẩn luân.
Kỵ lư thập tam tải,
Lữ thực kinh hoa xuân.
Triêu khấu phú nhi môn,
Mộ tuỳ phì mã trần.
Tàn bôi dữ lãnh chá,
Đáo xứ tiềm bi tân.
Chủ thượng khoảnh kiến trưng,
Thúc nhiên dục cầu thân.
Thanh minh khướt thuỳ si,
Tằng đăng vô túng lân.
Thậm quý trượng nhân hậu,
Thậm tri trượng nhân chân.
Mỗi ư bách liêu thượng,
Ổi tụng giai cú tân.
Thiết hiệu Cống công[5] hỉ,
Nan cam Nguyên Hiến bần.
Yên năng tâm ưởng ưởng,
Chỉ thị tẩu tuân tuân.
Kim dục đông nhập hải,
Tức tương tây khứ Tần[6].
Thượng liên Chung Nam sơn[7],
Hồi thủ thanh Vị tân[8].
Thường nghĩ báo nhất phạn,
Huống hoài từ đại thần.
Bạch âu một hạo đãng,
Vạn lý thuỳ năng thuần.

Dịch nghĩa

Con nhà giàu không bao giờ chết đói
Mũ áo nhà nho nhiều lúc làm lỡ đời người
Xin bậc tôn trưởng hãy lắng tai nghe
Cho kẻ hèn mọn được giãi bày rõ rệt
Đỗ Phủ này lúc còn ít tuổi
Sớm được dự hàng “khách nước” vinh quang
Sách đọc vỡ muôn cuốn
Bút viết như có thần
Phú địch nổi Dương Hùng
Thơ gần với Tử Kiến
Lý Ung cũng mong biết mặt
Vương Hãn cũng muốn ở gần
Nghĩ mình sẽ được trổ tài
Bước lên nơi trọng yếu
Giúp vua hơn Nghiêu, Thuấn
Làm cho phong tục trở lại trong lành
(Nhưng) ý nghĩ ấy đã bị tan mất
Lại không được như người ẩn dật, đâm ra đi lang thang hát nghêu ngao
Mười ba năm trời cưỡi trên mình lừa
Ăn ở nhờ nơi kinh đô
Sớm gõ cửa nhà giàu
Chiều hút theo dấu bụi đám ngựa béo
Rượu thừa cùng chả nguội
Đến đâu cũng âm thầm xót xa
Vụt được vua vời đến
Chắc được bay nhảy có phần
(Nhưng) giữa khoảng trời xanh, chim đành rũ cánh
Cá lờ đờ không chỗ giương vây
Thẹn mình được bậc tôn trưởng rủ tình đằm thắm
Rất hiểu lòng chân thực của cụ
Thường khi trước mặt trăm quan
Những câu thơ hay được đưa ra nhẩm đọc
Trộm bắt chước cái mừng của Cống Vũ
Chưa cam chịu cảnh Nguyên Hiến nghèo nàn
Hay đâu lòng bùi ngùi
Mỗi bước ruột nẫu úa
Nay định phương đông vào bể
Sẽ ra phương tây đi khỏi đất Tần
Nhìn núi Chung Nam vẫn còn lmến tiếc
Nghoảnh về phía sông Vị trong vắt một màu
Bát cơm còn mang ơn nặng
Huống chi từ biệt bậc đại thần lại không nhớ nhung
(Từ đây) chim bạch âu lẩn trong khoảnh mênh mông
Muôn dặm vẫy vùng ai còn chế ngự được

Bản dịch của Nhượng Tống

Khố lụa chẳng chết đói
Mũ nho thường tội thân
Cụ hãy lắng nghe thử
Hèn mọn xin phân trần
Phủ tôi lúc trẻ tuổi
Sớm dự khoa thi xuân
Sách đọc vỡ muôn quyển
Hạ bút như có thần
Thơ sánh sức Tào Thực
Phú ngang tài Tử Vân
Lý Ung tìm biết mặt
Vương Hãn muốn cầu thân
Tài mình tưởng chẳng mấy
Sẽ nắm quyền trị dân
Giúp vua vượt Nghiêu Thuấn
Lại cho phong tục thuần
Hát rong phải lánh đời ?
Nguyền xưa dẫu lỗi dần
Cưỡi lừa mười ba năm
Đất kinh tìm kiếm ăn
Nhà giàu sớm gõ cửa
Ngựa béo chiều theo chân
Rượu thừa, miếng chả nguội
Nuốt tủi đã bao lần ?
Nhà vua vừa cho đòi
Bay nhảy chắc có phần
Mây xanh, cánh bỗng rã
Vũng cạn, vẩy đành quằn
Rất biết cụ thực bụng
Rất cảm cụ ân cần
Câu hay thường đọc lại
Trước mặt các triều thần
Lòng mừng riêng khấp khởi
Cảnh nghèo bao khó khăn
Chạy kể đã vất vả
Lòng dẫu không ăn năn
Nay định tìm vào bể
Sẽ ra ngay khỏi Tần
Núi Chung còn tiếc rẻ
Bến Vị tạm lần chần
Bữa ăn mong trả nghĩa
Huống nữa là ân nhân
Muôn dặm sóng mông mênh
Âu trắng ai dễ gần ?
Đỗ Phủ làm bài này năm Thiên Bảo thứ 8 (748) khi đến Trường An thi bị hỏng, định xuất du nhưng còn lưu luyến đất đế đô, nhân đó gặp Vi Tế giữ chức thượng thư tả thừa. Ông làm bài này nói rõ tình cảnh và hoài bão của mình.

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
[1] Dương Hùng (53 tr.CN - 18 tr.CN) tự Tử Vân 子雲, một văn học gia nổi tiếng thời Tây Hán, người Thành Đô. Thời trai trẻ ham làm phú, học theo Tư Mã Tương Như. Sau đổi hướng, viết Thái huyền kinh phỏng theo Kinh Dịch, Pháp ngôn 法言 để sánh với Luận ngữ do các học trò Khổng Tử ghi chép lời thày dạy, theo Thương hiệt 倉頡 mà soạn ra Huấn toản 訓纂, theo Nghiêu châm 虞箴 mà soạn ra Châu châm 州箴.
[2] Tức Tào Thực (192-232), mười tuổi biết làm thơ, có trí thông minh, được mến chuộng.
[3] Lý Ung (678-747) tự Thái Hoà 泰和, người Dương Châu, Giang Đô. Đường làm quan nhiều trắc trở, phải thuyên chuyển nhiều nơi. Sau vì theo Dương Tứ lập công được làm thái thú Bắc Hải, 5 năm sau đó lại bị Lý Lâm Phủ 李林甫 sai tra tấn trong tù cho đến chết. Ông theo học thư pháp từ Vương Hy Chi 王羲之 và Vương Hiến Chi 王獻之. Hiện nay còn để lại nhiều tấm bia do ông khắc.
[4] Vương Hàn (687-726) tự Tử Vũ 子 羽, người Tấn Dương, Sơn Tây (nay là Thái Nguyên), đậu tiến sĩ năm Cảnh Vân (710), giữ chức biệt giá ở Tiên Châu, tính ham rượu nên bị đổi đi làm tư mã ở Đạo Châu, sau đó chết.
[5] Công Vũ 貢禹 (124 tr.CN - 44 tr.CN), tự Thiếu Ông 少翁, người Lang Gia đời Tây Hán. Thời vua Nguyên Đế làm quan tới ngự sử đại phu. Qua thơ, Cống Vũ thường được nhắc nhở như một người thấy vui khi khích lệ bạn cùng triều, như Cống Vũ đối với Vương Cát 王吉.
[6] Ám chỉ Trường An, vốn là đất kinh đô của nước Tần.
[7] Dãy núi ở gần Trường An.
[8] Bến sông Vị ở gần Trường An.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Phụng tặng Vi tả thừa trượng nhị thập nhị vận