21/10/2019 09:45Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Phụng quan Nghiêm trịnh công sảnh sự Mân sơn Đà giang hoạ đồ thập vận, đắc vong tự
奉觀嚴鄭公廳事岷山沱江畫圖十韻,得忘字

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 17/04/2015 18:01

 

Nguyên tác

沱水流中座,
岷山到此堂。
白波吹粉壁,
青嶂插雕梁。
直訝杉松冷,
兼疑菱荇香。
雪雲虛點綴,
沙草得微茫。
嶺雁隨毫末,
川蜺飲練光。
霏紅洲蕊亂,
拂黛石蘿長。
暗谷非關雨,
丹楓不為霜。
秋城玄圃外,
景物洞庭旁。
繪事功殊絕,
幽襟興激昂。
從來謝太傅,
丘壑道難忘。

Phiên âm

Đà thuỷ[1] lưu trung toạ,
Mân sơn[2] đáo thử đường.
Bạch ba xuy phấn bích,
Thanh chướng sáp điêu lương.
Trực nhạ sam tùng lãnh,
Kiêm nghi lăng hạnh hương.
Tuyết vân hư điểm chuế,
Sa thảo đắc vi mang.
Lĩnh nhạn tuỳ hào mạt,
Xuyên nghê ẩm luyện quang.
Phi hồng châu nhị loạn,
Phất đại thạch la trường.
Ám cốc phi quan vũ,
Đan phong bất vị sương.
Thu thành[3] Huyền Phố[4] ngoại,
Cảnh vật Động Đình bàng.
Hội sự công thù tuyệt,
U khâm hứng kích ngang.
Tòng lai Tạ thái phó[5],
Khâu hác đạo nan vong.

Dịch nghĩa

Sông Đà mà chảy trong bàn họp,
Núi Mân lại tới trong phòng này.
Làn sóng trắng thổi phấn trên tường,
Chỏm núi xanh cắm trên cột xà chạm.
Rõ lạ là cảm thấy cái lạnh của thông với bách,
Lại ngờ như ngửi thấy mùi thơm của hoa ấu hoa súng.
Mây tuyết tạo thành nét chấm phá huyền ảo,
Cỏ và cát có được cái vẻ mơ hồ ẩn dật.
Nhạn nơi đèo theo dấu chấm nhỏ tí,
Cầu vồng nơi sông nuốt chùm sáng như lụa.
Nhị hoa mầu hồng bên bến rơi tán loạn,
Dây leo đen sẫm trên đá đung đưa.
Hang vang tiếng mà không nhờ gió,
Lá phong đỏ không phải vì thấm sương.
Thành trì trong mùa thu có được ngoài cõi thần tiên,
Cảnh vật ngay bên cạnh hồ Động Đình.
Công việc vẽ đó đã có công dụng đặc biệt,
Cái mối cảm hoài thầm kín theo hứng mà bung ra.
Từ nay trở đi Tạ thái phó,
Ý tưởng về lối sống ẩn dật khó mà quên.

Bản dịch (của Bản dịch của Phạm Doanh)

Tại buổi họp sông Đà lại chảy,
Giữa phòng này lại thấy núi Mân.
Tường phấn, sóng trắng lăn tăn,
Đỉnh núi lại cắm ngay trên cột rường.
Mùi thơm từ ấu, lăng thoang thoảng,
Lạnh thông bách một thoáng nhận ra.
Tuyết mây chấm phá nhạt mờ,
Đầy huyền bí, cỏ bên bờ phất phơ.
Nhạn đỉnh núi nhỏ như đầu sợi,
Cầu vồng sông uống vợi ánh trời.
Nhánh thẫm trên đá buông xuôi,
Nhị hồng bên bến bời bời tứ tung.
Không có mưa mà hang mù mịt,
Lá phong đỏ, chẳng chút sương sa.
Thành thu cách Huyền Phố xa,
Tưởng cạnh hồ Động lá hoa tươi mầu.
Nghề vẽ thật khéo sao là khéo,
Nỗi lòng sâu thoát điệu vơi đầy.
Tạ thái phó, kể từ nay,
Cuộc sống ẩn dật quên ngay khó lòng.
(Năm 764)

[1] Còn có tên là Lạc giang hay Ngoại giang, là chi phái của Mân giang, thuộc Tứ Xuyên.
[2] Tên núi, trong địa phận huyện Tùng Phiên, Tứ Xuyên.
[3] Chỉ Thành Đô.
[4] Theo thần thoại chỉ nơi tiên ở, tại đỉnh núi Côn Lôn.
[5] Tạ An 謝安 (320-385), tự An Thạch 安石, người đời Tấn, một nhà hành chính có tài, chức tới thái phó. Trước đó, ẩn cư nơi núi đông, tới bốn mươi tuổi mới ra làm quan.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Phụng quan Nghiêm trịnh công sảnh sự Mân sơn Đà giang hoạ đồ thập vận, đắc vong tự