15/05/2021 08:12Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tân Phong chiết tý ông
新豐折臂翁

Tác giả: Bạch Cư Dị - 白居易

Thể thơ: Cổ phong (cổ thể); Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Trung Đường
Đăng bởi Vanachi vào 18/04/2007 20:10

 

Nguyên tác

新豐老翁八十八,
頭鬢眉須皆似雪;
玄孫扶向店前行,
左臂憑肩右臂折。
問翁折臂來幾年?
兼問致折何因緣?
翁雲貫屬新豐縣,
生逢聖代無征戰;
慣聽梨園歌管聲,
不識旗槍與弓箭。
無何天寶大徵兵,
戶有三丁點一丁;
點得驅將何處去?
五月萬里雲南行。
聞道雲南有瀘水,
椒花落時瘴煙起;
大軍徒涉水如湯,
未過十人二三死。
村南村北哭聲哀,
兒別爺娘夫別妻;
皆雲前後徵蠻者,
千萬人行無一回。
是時翁年二十四,
兵部牒中有名字;
夜深不敢使人知,
偷將大石槌折臂;
張弓簸旗俱不堪,
從茲始免征雲南。
骨碎筋傷非不苦,
且圖揀退歸鄉土。
此臂折來六十年,
一肢雖廢一身全;
至今風雨陰寒夜,
直到天明痛不眠。
痛不眠,終不悔,
且喜老身今獨在;
不然當時瀘水頭,
身死魂飛骨不收;
應作雲南望鄉鬼,
萬人冢上哭呦呦。
老人言,君聽取;
君不聞開元宰相宋開府,
不賞邊功防黷武?
又不聞天寶宰相楊國忠,
欲求恩倖立邊功?
邊功未立生人怨,
請問新豐折臂翁。

Phiên âm

Tân Phong lão ông bát thập bát,
Đầu mấn my tu giai tự tuyết;
Huyền tôn[1] phù hướng điếm tiền hành,
Tả tý bằng kiên hữu tý chiết.
Vấn ông: Chiết tý lai kỷ niên?
Kiêm vấn: Trí chiết hà nhân duyên?
Ông vân: Quán thuộc Tân Phong huyện,
Sinh phùng thánh đại vô chinh chiến;
Quán thính lê viên[2] ca quản thanh,
Bất thức kì thương dữ cung tiễn.
Vô hà thiên bảo đại trưng binh,
Hộ hữu tam đinh điểm nhất đinh;
Điểm đắc khu tướng hà xứ khứ?
Ngũ nguyệt vạn lý Vân Nam[3] hành.
Văn đạo Vân Nam hữu Lô Thuỷ,
Tiêu hoa lạc thời chướng yên khởi;
Đại quân đồ thiệp thuỷ như thang,
Vị quá thập nhân nhị tam tử.
Thôn nam thôn bắc khốc thanh ai,
Nhi biệt gia nương phu biệt thê;
Giai vân tiền hậu chưng Man[4] giả,
Thiên vạn nhân hành vô nhất hồi.
Thị thời ông niên nhị thập tứ,
Binh bộ điệp trung hữu danh tự;
Dạ thâm bất cảm sử nhân tri,
Thâu tướng đại thạch chuỳ chiết tý;
Trương cung bả kỳ câu bất kham,
Tòng tư thỉ miễn chinh Vân Nam.
Cốt toái cân thương phi bất khổ,
Thả đồ luyện thoái quy hương thổ.
Thử tý chiết lai lục thập niên,
Nhất chi tuy phế nhất thân toàn;
Chí kim phong vũ âm hàn dạ,
Trực đáo thiên minh thống bất miên.
Thống bất miên, chung bất hối,
Thả hỉ lão thân kim độc tại;
Bất nhiên đang thì lô thuỷ đầu,
Thân tử hồn phi cốt bất thâu;
Ứng tác Vân Nam vọng hương quỷ,
Vạn nhân trủng thượng khốc u u.
Lão nhân ngôn, quân thính thủ;
Quân bất văn Khai Nguyên tể tướng Tống khai phủ,
Bất thưởng biên công[5] phòng độc vũ?
Hựu bất văn Thiên Bảo tể tướng Dương Quốc Trung[6],
Dục cầu ân hạnh lập biên công?
Biên công vị lập sinh nhân oán,
Thỉnh vấn Tân Phong chiết tý ông.

Dịch nghĩa

Cụ già đất Tân Phong tám mươi tám tuổi,
Chân mày, râu, tóc đều trắng như tuyết,
Đứa chút dắt dìu ông đến trước điếm
Tay trái ông thì bíu vai đứa chút, tay phải thì cụt mất.
Hỏi cụ: mất tay đã bao năm?
Lại hỏi: Vì cớ gì mà mất tay?
Cụ nói: Quê lão tại huyện Tân Phong,
Sống vào những năm tháng yên bình không có chiến tranh,
Thường quen nghe tiếng đàn hát ở vườn lê,
Không biết cờ xí, cung tên là gì.
Không bao lâu có cuộc trưng binh lớn thời Thiên Bảo,
Hộ có ba trai chấm lấy một,
Chấm được rồi thì lùa đi biệt xứ,
Tháng năm đi miền Vân Nam xa vạn dặm,
Nghe nói ở Vân Nam có sông Lô,
Cứ đến mùa hoa tiêu rụng là độc khí bốc lên,
Toàn quân phải lội qua sông, nước nóng như sôi,
Chưa qua sông hết mà mười người đã chết mất hai ba,
Tiếng khóc nghe thảm thiết từ thôn bắc chí nam,
Con giã biệt cha, vợ giã biệt chồng,
Người rằng trước sau gì những người lính chinh Man,
Nghìn vạn người ra đi sẻ không một ai trở về,
Ngày đó lão hai mươi bốn tuổi,
Trong tờ công văn binh bộ có tên,
Đêm khuya không dám cho ai biết,
Lén lấy hòn đá to đập gãy cánh tay.
Việc giương cung, phất cờ không kham nổi nữa,
Từ đó không còn bị đưa đi đánh Vân Nam.
Gãy xương đứt gân không phải là không đau,
Chỉ mong được loại về chốn quê hương.
Mất tay đã sáu mươi năm rồi,
Tuy một tay bị đoạn nhưng thân vẫn được vẹn nguyên,
Đến những đêm mưa dầm gió lạnh,
Đau nhức suốt đêm không sao ngủ được.
Đau không ngủ được nhưng rốt cuộc vẫn không hối hận,
Mừng cho cái thân già vẫn còn sống sót đến hôm nay.
Nếu không phải như thế thì trên đầu nguồn sông Lô ngày ấy,
Thân chết, hồn chơi vơi, nấm xương không ai góp nhặt,
Đã thành con ma nhớ quê nhà ở Vân Nam.
Khóc rền rĩ trên bãi những nấm mồ chôn vạn thân xác.
Lời kể của lão, ngươ hãy lắng nghe.
Ngươi chưa từng nghe qua tể tướng Tống khai phủ đời Khai Nguyên,
Không thưởng công chuyện mở rộng biên cương để phòng kẻ lạm dụng vũ lực đó sao?
Lại chẳng biết tể tướng Dương Quốc Trung đời Thiên Bảo,
Vì muốn được ân sủng thưởng ban của vua mà đã lập công bằng cách mở rộng biên cương đó sao?
Biên công chưa lập thì lòng dân đã oán hận rồi.
Xin hãy hỏi ông lão đất Tân Phong sẻ rõ thôi!

Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu

Ông già Tân Phong tám tám tuổi
Đầu tóc mày râu như tuyết gội
Đứa chít dìu đi trước quán hàng
Tay cụt, tay nương vai chít nội
Hỏi ông: “Tay cụt mấy năm nay?”
Lại hỏi: “Vì sao cụ cụt tay?”
Ông đáp: “Tân Phong vốn quê huyện
Sinh nhằm triều thánh không chinh chiến
Quen nghe đàn hát chốn Vườn Lê
Cung kiếm đao thương chưa biết đến
Bỗng thời Thiên Bảo đại trưng binh
Nhà cứ ba đinh bắt một đinh
Bắt được xua đi đâu đó mất
Vân Nam muôn dặm phải tòng chinh...
Vân Nam nghe có dòng Lô ác
Mùa rụng hoa tiêu hơi độc tác
Quân lội qua sông nước bỏng sôi
Mười mạng, chưa qua vài mạng thác
Bắc xóm nam thôn khóc xót xa
Chồng lìa cách vợ, con lìa cha
Rằng vạn nghìn người đi đánh Mán
Trước sau không một kẻ về nhà
Thuở ấy lão vừa hăm bốn tuổi
Bộ Binh đưa giấy biên tên gọi
Đêm khuya chẳng dám để ai hay
Lén đập gãy tay bằng đá cuội
Giương nỏ cung cờ chẳng thể làm
Từ rày thôi khỏi tới Vân Nam
Gân dập xương tan đau lắm chớ
Nhưng mong được thải về quê ở
Gãy tay giờ sáu chục năm tròn
Một tay tuy mất, một thân còn
Nay cứ đêm nào mưa gió lạnh
Suốt sáng nằm đau chẳng ngủ ngon
Chẳng ngủ ngon, không tiếc hối
Mừng chút thân già còn sống nổi
Nếu không, thuở ấy dọc sông Lô
Bay hồn, bỏ rạc nấm xương khô
Làm quỷ Vân Nam mơ xóm cũ
Trên mồ muôn xác khóc hu hu!”
Hãy nhớ ghi lời ông cụ
Anh chẳng nghe:
Tướng triều Khai Nguyên Tống Khai Phủ
Không thưởng biên công, ngừa độc vũ
Lại chẳng nghe:
Tướng triều Thiên Bảo Dương Quốc Trung
Muốn cầu ân sủng, lập biên công
Công chửa thấy chi, dân đã oán
Hỏi ông tay gãy huyện Tân Phong...
Tân Phong: hiện ở phía đông bắc huyện Lâm Đồng, thuộc địa phận tỉnh Thiểm Tây.

Nguồn: Lê Nguyễn Lưu, Đường thi tuyển dịch - tập 2, NXB Thuận Hoá, 2007
[1] Cháu của cháu gọi là chút.
[2] Nơi diễn kịch. Đường Minh Hoàng nuôi 3000 con hát ở đây cung phụng cho mình.
[3] Vào thời đó là nước Nam Chiếu, nay là vùng đất thuộc Đại Lý, tỉnh Vân Nam.
[4] Người Hán tộc thường gọi người phía nam là Man.
[5] Công lao mở mang bờ cõi.
[6] Tên thật là Dương Xuyên, anh con Bác của Dương Quý Phi (Dương Ngọc Hoàn), được phong làm tể tướng và đổi tên là Dương Quốc Trung. Họ Dương này sau bị quân sĩ giết chết trong lúc chạy loạn An Lộc Sơn vào năm 756.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Bạch Cư Dị » Tân Phong chiết tý ông