08/12/2021 00:08Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu - 阮廷沼

Thể thơ: Phú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 27/07/2005 13:30

 

Hỡi ơi!
Súng giặc đất rền;
Lòng dân trời tỏ.

Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;
Một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:
Cui cút[1] làm ăn;
Riêng lo[2] nghèo khó.

Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung[3];
Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ[4].

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;
Tập khiên[5], tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

Tiếng phong hạc[6] phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn mong mưa;
Mùi tinh chiên[7] vấy vá[8] đã ba năm, ghét thói mọt như nhà nông ghét cỏ.

Bữa thấy bòng bong[9] che trắng lốp, muốn tới ăn gan;
Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

Một mối xa thư[10] đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu[11];
Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó[12].

Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình[13];
Chẳng thèm chốn ngược, chốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ[14].

Khá thương thay:
Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ[15], theo dòng[16] ở lính diễn binh[17];
Chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ[18].

Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;
Chín chục trận binh thư, đâu chờ bày bố.

Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi đeo bao tấu[19] bầu ngòi[20];
Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu[21] nón gõ[22].

Hoả mai[23] đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;
Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;
Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

Kẻ đâm ngang, người chém dọc, làm cho mã tà[24] ma ní[25] hồn kinh;
Bọn[26] hè trước, lũ[27] ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ.

Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;
Đâu biết xác phàm[28] vội bỏ.

Một chắc sa trường rằng chữ hạnh[29], nào hay da ngựa bọc thây[30];
Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ[31].

Đoái sông Cầm Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;
Nhìn chợ Trường Bình[32], già trẻ hai hàng luỵ[33] nhỏ.

Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà vi binh[34] đánh giặc cho cam tâm;
Vốn không giữ thành, giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực[35] theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:
Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi[36] cho nước nhà ta;
Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;
Vì ai xui hào luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió?

Sống làm chi theo quân tà đạo[37], quăng vùa hương[38], xô bàn độc[39], thấy lại thêm buồn;
Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

Thà thác mà đặng câu địch khái[40], về theo tổ phụ[41] cũng vinh;
Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di[42] rất khổ.

Ôi thôi thôi!
Chùa Tân Thạnh[43] năm canh ưng[44] đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;
Đồn Lang Sa[45] một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc[46] trôi theo dòng nước đổ.

Đau đớn bấy! mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;
Não nùng thay! vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ[47] trước ngõ.

Ôi!
Một trận khói tan;
Nghìn năm tiết rỡ.

Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm cho bốn phía mây đen;
Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ[48].

Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;
Thác mà ưng[49] đền miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;
Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

Nước mắt anh hùng[50] lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân[51];
Cây hương nghĩa sĩ thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ[52].

Hỡi ơi!
Có linh xin hưởng.
1861

Năm 1861, sau khi chiếm được Gia Định và đánh hạ được đại đồn Kỳ Hoà, Pháp tiến đánh Mỹ Tho, hạ được thành và chiếm được thị xã Gò Công cùng hai xứ Tân An và Cần Giuộc. Căm phẫn vì hành động của Pháp, các cụ Trương Công Định, Phan Văn Đạt, Hồ Huấn Hiệp, Cai tổng Bùi Quang Là,... tổ chức nghĩa quân chống Pháp ở Tân An, Chợ Lớn và Gò Công. Trận thắng lớn đầu tiên là trận đánh úp chợ Trường Bình ở Cần Giuộc (tức quận Cần Giuộc, nay thuộc tỉnh Long An) đêm rằm tháng 11 năm Tân Dậu (tức 16-12-1861), dưới sự chỉ huy của Cai tổng Là, chỉ dùng khí giới bằng tầm vông, giáo mác mà giết được một trung uý Pháp trưởng đồn, đốt một dãy nhà Việt gian, giết và làm bị thương trên 50 tên địch, nhưng có 15 người (có tài liệu nói 27 người) hy sinh. Tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang ra lệnh cho Bùi Quang Là tổ chức lễ tế truy điệu những người tử trận. Bùi Quang Là nhờ Nguyễn Đình Chiểu lúc ấy đang ở quê vợ là làng Thanh Ba (nay thuộc xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc) viết bài văn tế này. Sau đó Đỗ Quang cho sao bài văn tế gởi kèm báo cáo về Huế, tương truyền Tự Đức cho sao ra gởi tới các tỉnh vùng Trung Bắc sai phổ biến rộng rãi để khích lệ quân đội và nhân dân.

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là tiếng khóc bi tráng cho một thời kỳ lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, là bức tượng đài bất tử về những người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc đã dũng cảm chiến đấu hi sinh vì Tố quốc. Bài văn cũng là một thành tựu xuất sắc về nghê thuật xây dựng hình tượng nhân vật, kết hợp nhuần nhuyễn chất trữ tình và tính hiện thực; ngôn ngữ bình dị, trong sáng, sinh động.

Bài thơ này được sử dụng trong các chương trình SGK Văn học 11 giai đoạn 1990-2006, Ngữ văn 11 từ 2007.

Tài liệu tham khảo:
1. Thái Bạch, Thi văn Quốc cấm thời thuộc Pháp, NXB Khai Trí, 1968
2. Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, NXB Ðại học & Trung học chuyên nghiệp, 1971
3. Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu xuất bản, Sài Gòn, 1968
4. Trích bản Nôm viết tay của cụ Lê Công Cẩn sao chép bản gốc của cụ Đồ Chiểu
5. Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, NXB Văn học Giải phóng, TP Hồ Chí Minh, 1976
[1] Cui cút làm ăn có nghĩa là làm ăn lẻ loi, thầm lặng một cách tội nghiệp.
[2] Có bản chép là “Toan lo”.
[3] Chỗ đánh nhau.
[4] Làng xóm. Có bản chép “làng hộ”.
[5] Thứ mộc hình tròn đan bằng mây dùng để đỡ mũi giáo đối phương lúc xung trận.
[6] Lấy ở câu “Phong thanh hạc lệ, thảo mộc giai binh”, nghĩa gốc là nói sự hồi hộp lo lắng, nghe tiếng gió thổi hạc kêu, thấy cây cỏ cũng tưởng là giặc đuổi đánh. Ở đây, “tiếng phong hạc” có nghĩa là tin kẻ địch đến.
[7] Tanh hôi, chỉ bọn thực dân Pháp.
[8] Dây dính bậy bạ.
[9] Giống cây dây leo có nhiều râu (tay leo). Ở đây chỉ những lều và buồm vải có nhiều dây của quân Pháp.
[10] Cỗ xe và chữ viết, do chữ “xa đồng quỹ, thư đồng văn”, nghĩa là xe cộ cùng một đường (quỹ: dấu xe đi), sách viết cùng một thứ chữ, ý nói sự thống nhất hoàn toàn.
[11] Đến chiếm cướp, lấy tích Lưu Bang cướp ngôi nhà Tần. Cả vế “một mối... đuổi hươu” có nghĩa: đất nước ta là một khối thống nhất vĩ đại, không thể nào để kẻ nào đến chiếm cướp.
[12] Chỉ phường lừa lọc cướp phá không có luân thường đạo lý.
[13] Chém cá kình.
[14] Bắt hổ.
[15] Các loại đơn vị quân đội thời phong kiến.
[16] Dòng dõi cha ông.
[17] Luyện tập việc binh.
[18] Tuyển trên cơ sở tự nguyện (chiêu: vời, mời; mộ: cầu, tìm).
[19] Bao đựng kiếm.
[20] Bầu đựng ngòi thuốc nổ.
[21] Dao dài lưỡi.
[22] Nón của người lính ngày xưa.
[23] Mồi lửa để bắn súng (ngày xưa).
[24] Theo tiếng Malaysia là cảnh sát.
[25] Lính của Tây Ban Nha mộ ở Philippin (Mani: thủ đô Philippin).
[26, 27] Bọn, lũ: ngày trước chỉ có nghĩa là nhiều người, ít có nghĩa là coi thường. Ở đây là chỉ các nghĩa quân.
[28] Xác của con người trần tục.
[29] Hạnh là may, ý nói may được cứu sống. quy: về, ở đây là chết.
[30] Chỉ việc hy sinh nơi chiến trường. Do câu nói của Mã Viện đời Hán (Trung Quốc): Kẻ làm trai nên chết ở chốn biên thuỳ, lấy da ngựa bọc thây mà chôn mới là đáng trọng, chứ sao lại chịu nằm ở xó giường, chết ở trong tay bọn đàn bà con trẻ thì có hay gì.
[31] Một nghĩa sĩ thời Chiến Quốc không thoả được chí mình, trước khi chết, dặn con treo gươm trên mộ để tỏ chí khí.
[32] Thuộc Cần Giuộc.
[33] Lệ (nước mắt).
[34] Làm lính.
[35] Làm hết sức để chuộc tội (hiệu: hết sức), hoặc có tội phải đi làm những việc nguy hiểm để chuộc tội.
[36] Vun đắp (tài: trồng cây, bồi: vun thêm).
[37] Đạo bất chính, ở đây là chỉ đạo Giatô. Bấy giờ bọn cướp nước lợi dụng đạo Giatô để chia rẽ nhân dân ta và mượn cớ đi truyền đạo để do thám. Các chí sĩ của ta chưa nhận rõ đâu là kẻ theo địch, đâu là người theo đạo nên chủ trương bài đạo nói chung.
[38] Bình hương.
[39] Bàn thờ tổ tiên.
[40] Tinh thần chống lại kẻ mình căm giận.
[41] Ông nội, người sinh ra cha. Ở đây chỉ tổ tiên, ông cha nói chung.
[42] Mọi rợ, ở đây chỉ bọn giặc Pháp.
[43] Một ngôi chùa ở Chợ Lớn. Có bản chép “Chùa Tôn Hạnh”, “Chùa Lão Ngỏ”.
[44] Phải chịu.
[45] Đồn Pháp. Có sách chép “Đồn Tây Lương”.
[46] Phận mỏng.
[47] Vất vơ, vất vưởng.
[48] Chữ Hán là “xích tử”, trẻ con mới đẻ còn đỏ hỏn. Nghĩa bóng là nhân dân (cần được chăm sóc như chăm sóc đứa trẻ mới đẻ).
[49] Được, muốn được.
[50] Phải hiểu là nước mắt khóc người anh hùng.
[51] Dân của trời.
[52] Đất của vua, lấy trong Kinh thi. Ở đây dùng với ý trách nhà vua: dưới gầm trời đâu cũng là đất của vua, trong bốn bể ai cũng là bề tôi của vua, thế mà dân chúng, đất đai ấy lại bị đấng quân vương để rơi vào tay giặc.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Đình Chiểu » Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc