06/12/2021 10:54Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Bà Nguyễn Thị Kim

Tác giả: Cao Bá Quát - 高伯适

Thể thơ: Ca trù (hát nói); Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 21/03/2014 07:56

 

Triều Lê quý[1] có nàng tiết liệt,
Hai mươi năm những hận thù Tây[2].
Đem tàn dung nương chốn am mây,
Đạo thần tử tình trong phu phụ.
Vạn cổ di luân chiêu vũ trụ,
Nhất xoang trung nghĩa đáp quân vương.[3]
Nặng hai vai một gánh cương thường,
Chén tân khổ nhắp ngon mùi chính khí[4].
Đã nên đấng trung thần bất nhị[5],
Lại nên tài liệt nữ bất canh[6].
Rõ ràng hai chữ trung trinh[7].
Bà Nguyễn Thị Kim quê làng Tỳ Bà, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, là thứ phi của vua Lê Chiêu Thống. Năm 1788 vua Quang Trung đưa quân ra Bắc Hà, đánh đuổi quân Thanh. Chiêu Thống theo Tôn Sĩ Nghị chạy sang Tàu, bà đi theo không kịp, về quê ẩn lánh trong chùa. Sau Chiêu Thống chết ở bên Tàu.

Năm Gia Long thứ 3 (1804), cố thần nhà Lê đưa di hài Chiêu Thống về nước, bà lên cửa Nam Quan đón, phục tang khóc lóc. Khi di hài về đến thành Thăng Long, làm lễ ninh lăng và mọi việc xong, bà bảo với người nhà “công việc của ta như thế là trọn rồi”, nói xong uống thuốc độc chết. Quan tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành được tin, thân đến cấp cho đồ tang tế rất hậu, làm sớ tâu lên triều đình.

Năm Minh Mạng thứ nhất (1820), vua ban cho bà 4 chữ “An trinh tuẫn tiết” 安貞殉節, sai quan khâm mạng đến dựng bia, khắc 4 chữ ấy ở từ đường thờ bà. Lại ban 20 mẫu ruộng tự điền lấy hoa lợi mà cung vào đèn hương giỗ chạp và cấp cho 2 người sái phu để quét dọn từ đường và trông nom phần mộ.

Nguồn:
1. Cao Bá Quát toàn tập - tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004 (theo Việt Nam ca trù biên khảo)
2. Dương Quảng Hàm, Quốc văn trích diễm: Cao đẳng tiểu học độc bản, Kim Khuê ấn quán phát hành, 1928 (đề là khuyết danh)
[1] Cuối đời nhà Lê.
[2] Thù với nhà Tây Sơn.
[3] Chữ Hán: 萬古彝倫昭宇宙,一肛忠義答君王 (Muôn đời luân thường chói lọi trong vũ trụ; Một lòng trung nghĩa báo đáp quân vương).
[4] Chí khí mạnh lớn ở trong trời đất. Bài Chính khí ca của Văn Thiên Tường đời Tống:
Thiên địa hữu chính khí,
Tạp nhiên phú lưu hình.
Hạ tắc vi hà nhạc,
Thượng tắc vi nhật tinh.
天地有正氣,
雜然賦流形。
下則為河岳,
上則為日星。
(Trời đất có chính khí,
Lẫn lộn vào những vật có hình.
Ở dưới làm sông núi,
Ở trên trời làm mặt trời và trăng sao.)

[5, 6] Sách Sử ký: “Trung thần bất sự nhị quân, liệt nữ bất canh nhị phu” 忠臣不事二君,烈女不更二夫 (Kẻ trung thần không thờ hai vua, người liệt nữ không đổi hai chồng).
[7] Trung là một lòng với vua với nước, trinh là một lòng với chồng.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Cao Bá Quát » Bà Nguyễn Thị Kim