09/12/2022 19:14Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Ký ẩn cư sĩ
寄隐居士

Tác giả: Tạ Dật - 謝逸

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Bắc Tống, Liêu
Đăng bởi tôn tiền tử vào 27/09/2018 01:48

 

Nguyên tác

先生骨相不封侯,
卜居但得林塘幽。
家藏玉唾幾千卷,
手校韋編三十秋。
相知四海孰青眼,
高臥一庵今白頭。
襄陽耆舊節獨苦,
只有厖公不入州。

Phiên âm

Xử sĩ[1] cốt tướng bất phong hầu,
Bốc cư[2] đãn đắc lâm đường u.
Gia tàng ngọc thoá[3] kỷ thiên quyển,
Thủ hiệu vi biên[4] tam thập thu.
Tương tri tứ hải thục thanh nhãn,
Cao ngoạ nhất am kim bạch đầu.
Tương Dương kỳ cựu tiết độc khổ,
Chỉ hữu Bàng Công[5] bất nhập châu.

Dịch nghĩa

Xử sĩ không có tướng phong hầu
Chọn nơi ở chỉ được nơi núi rừng
Nhà chứa hàng nghìn pho bọt ngọc
Ba mươi năm tay chú giải vi biên
Quen biết trong thiên hạ ai là người mắt xanh
Nằm cao trong am đầu đã bạc
Bậc kỳ cựu ở Tương Dương khổ vì tiết tháo
Chỉ có Bàng Công không vào châu, thị

Bản dịch của Lê Xuân Khải

Là xử sĩ phong hầu không tướng
Thú lâm truyền chọn hướng trời cho
Trong nhà bọt ngọc nghìn pho
Ba mươi năm chú chữ từ vi biên
Mắt ai xanh người quen thiên hạ
Nay bạc đầu tiết cả am cao
Tương Dương kỳ cựu khổ sao
Bàng công không chịu bước vào thị châu
Bài này tuyển từ Tống thi biệt tài tập quyển 6. Đây là một bài thơ tiêu biểu của tác giả, làm để tỏ rõ bản thân có tài không gặp về ẩn cư nơi rừng núi, xa chốn quan trường, lấy đọc sách làm vui, tâm tình thảnh thơi.

[1] Người xưa gọi người có tài đức, chịu ẩn cư không ra làm quan.
[2] Người xưa chọn nơi ở, trước tiên bói xem xấu tốt.
[3] Người xưa có thói quen thấm nước bọt vào ngón tay để giở sách, ở đây chỉ sách quý.
[4] Vi là da trâu thuộc, ngày xưa dùng thẻ tre để chép sách, dùng da trâu để bện lại với nhau. Người sau gọi kinh dịch là “vi biên”.
[5] Tức Bàng Đức Công, người Tương Dương (nay là thành phố Tương Phàn, Hồ Bắc) thời Đông Hán, tự Sơn Dân, cày ở Hiện San, không khi nào vào châu quận thành phố.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Tạ Dật » Ký ẩn cư sĩ