23/06/2021 15:56Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Đăng Kim Lăng Vũ Hoa đài vọng Đại giang
登金陵雨花臺望大江

Tác giả: Cao Khải - 高啟

Thể thơ: Thất ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Minh
Đăng bởi tôn tiền tử vào 21/01/2019 11:14

 

Nguyên tác

大江來從萬山中,
山勢盡與江流東。
鍾山如龍獨西上,
欲破巨浪乘長風。
江山相雄不相讓,
形勝爭誇天下壯。
秦皇空此瘞黄金,
佳氣蔥蔥至今旺。
我懷鬱塞何由開,
酒酣走上城南臺。
坐覺蒼茫萬古意,
遠自荒煙落日之中來。
石頭城下濤聲怒,
武騎千群誰敢渡?
黄旗入洛竟何祥?
鐵鎖橫江未為固。
前三國後六朝,
草生宮闕何蕭蕭!
英雄乘時務割据,
幾度戰血流寒潮。
我生幸逢聖人起南國,
禍亂初平事休息。
從今四海永為家,
不用長江限南北。

Phiên âm

Đại giang lai tòng vạn sơn trung,
Sơn thế tận dữ giang lưu đông.
Chung sơn[1] như long độc tây thướng,
Dục phá cự lãng thừa trường phong.
Giang sơn tương hùng bất tương nhượng,
Hình thắng tranh khoa thiên hạ tráng.
Tần Hoàng không thử ế hoàng kim[2],
Giai khí thông thông chí kim vượng.
Ngã hoài úc tắc hà do khai?
Tửu can tẩu thướng thành nam đài[3].
Toạ giác thương mang vạn cổ ý,
Viễn tự hoang yên lạc nhật chi trung lai.
Thạch Đầu thành[4] hạ đào thanh nộ,
Vũ kỵ thiên quần thuỳ cảm độ?
Hoàng kỳ nhập Lạc[5] cánh hà tường?
Thiết toả[6] hoành giang vị vi cố.
Tiền Tam quốc, hậu Lục triều[7],
Thảo sinh cung khuyết hà tiêu tiêu!
Anh hùng thừa thời các cát cứ,
Kỷ độ chiến huyết lưu hàn trào.
Ngã kim hạnh phùng thánh nhân[8] khởi Nam quốc,
Hoạ loạn sơ bình sự hưu tức[9].
Tòng kim tứ hải vĩnh vi gia[10],
Bất dụng Trường Giang hạn nam bắc.

Dịch nghĩa

Đại giang bắt nguồn từ muôn trùng núi
Thế núi thảy cùng Đại giang chảy về đông
Riêng có núi Chung Nam như rồng hướng về tây
Muốn phá sóng cả lướt trên gió mạnh
Sông núi cùng hùng tráng không biết nhường nhau
Khoe nhau hình thắng làm tráng quan cho trời đất
Vua Tần uổng công yểm vàng ở đây
Khí lành ngùn ngụt vượng đến nay
Ta mang thắc mắc không biết làm sao giải được?
Uống say leo lên phía nam đài thành
Ngồi cảm nhận ý ngàn xưa trong mịt mùng
Đến từ trong làn khói hoang dại nơi mặt trời lặn xa tắp
Chân thành Thạch Đầu sóng gào giận dữ
Nghìn đội kỵ binh không ai dám rượt?
Cờ vàng vào Lạc Dương là điềm gì?
Giây sắt khoá ngang sông chưa là vững chắc
Trước Tam quốc, sau đến Lục triều
Cỏ lan cung khuyết sao mà tiêu điều
Anh hùng gặp thời đều chiếm giữ đất
Bao phen đánh nhau máu loang triều lạnh
Ta nay may có thánh nhân dấy từ Nam quốc
Hoạ loạn mới yên rối ren lắng lại
Từ nay bốn biển mãi mãi là nhà
Không dùng Trường Giang ngăn nam bắc.

Bản dịch của Lê Xuân Khải

Nguồn Đại giang từ muôn trùng núi
Thảy theo giang núi chạy về đông
Ngược tây riêng có núi Chung
Rồng phá sóng cả lướt trùng gió dông
Chẳng nhường nhau núi sông hùng tráng
Đất trời khoe hình thắng cảnh quan
Vàng vua Tần uổng lo toan
Ngùn ngụt vượng khí vẫn còn đến nay
Ta thắc mắc đến ngày nào mở
Say bước lên đài Vũ Hoa kia
Mịt mùng biết ý ngàn xưa
Từ nơi ác lặn khói mờ về đây
Thạch Đầu thành chân đầy sóng giận
Muôn kỵ binh nào dám vượt sang?
Điềm chi vào Lạc cờ vàng?
Vững đâu đem sắt khoá ngang sông dài
Sau Lục triều nối thời Tam quốc
Cung khuyết tàn cỏ mọc thê lương
Anh hùng nổi chiếm một phương
Bao phen chinh chiến máu loang triều hàn
Ta may gặp thánh nhân Nam khởi
Việc vừa yên gặp buổi loạn qua
Từ nay bốn biển là nhà
Trường Giang chẳng để ngăn ra hai miền
Tác giả bị trưng tập về kinh để toản tu Nguyên sử vào đầu năm thứ hai Hồng Vũ, đến tháng tám năm sau từ chức về làng, bài thơ này được làm ra trong thời gian này, miêu tả cảnh hùng tráng của Kim Lăng, là nơi lập đô của sáu triều đại. Tuy có hiểm của Trường Giang nhưng vẫn không giữ được, vì đề mất lòng dân.

[1] Lại có tên là Tử Kim sơn, nay ở phía đông thành Nam Kinh.
[2] Chôn vàng. Theo Đan Dương ký: phương sĩ thời Tần Thuỷ Hoàng với Kim Lăng có khí đế vương, ông ta cho chôn ở Kim Lăng vàng ngọc và các báu vật để yểm vương khí.
[3] Tức Vũ Hoa đài, vì đài ở phía nam thành nên có tên.
[4] Tên thành cổ, dấu cũ nay ở núi Thanh Lương, thành phố Nam Kinh, Giang Tô. Vốn là thành Kim Lăng nước Sở, cuối Hán, Tôn Quyền xây lại thành nên có tên.
[5] Là Lạc Dương, một cổ đô của Trung Quốc. Theo Tam Quốc chí: Vua cuối cùng của Ngô là Tôn Hạo tin nghe cờ vàng lọng tía xuất hiện ở đông nam, lời đồn là vua Ngô sắp có cả thiên hạ, Tôn Hạo liền đem già trẻ cả nhà và hậu cung, gồm thêm mấy nghìn binh sĩ, nhằm hướng kéo về Lạc Dương đương là đô thành của triều Tấn lúc bấy giờ, nói là đi ứng theo mệnh trời. Trên đường gặp tuyết lớn rét buốt, quân lính rêu rao muốn quay giáo, Tôn Hạo bất đắc dĩ phải quay về nam. Sau này Tây Tấn diệt Ngô, cả họ Tôn Hạo bị bắt về Lạc Dương.
[6] Năm đầu Thái Khang đời Tây Tấn, Tấn Vũ Đế sai đại tướng Vương Tuấn đem thuỷ quân xuôi dòng Trường Giang đông hạ diệt Ngô. Quân Ngô đóng cọc căng dây sắt ngang sông, ngỡ phá được thuyền quân Tấn, ngăn chặn việc đông hạ, song bị quân Tấn dùng cách phá được, tiêu diệt nước Ngô.
[7] Chỉ Ngô, Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần đều đóng đô ở Kim Lăng; còn Tam quốc chỉ có ba nước Nguỵ, Thục, Ngô.
[8] Chỉ Chu Nguyên Chương khởi binh ở Hào Châu.
[9] Tức “hưu dưỡng sinh tức” (nghỉ ngơi phát triển). Đầu Minh, Chu Nguyên Chương thi hành chính sách “Dữ dân hưu tức” để cho trăm họ yên ổn, khôi phục sức dân.
[10] Chỉ toàn Trung Quốc, ý là nước nhà kết thúc tình hình chia cắt, quay về một mối, cũng như một nhà.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Cao Khải » Đăng Kim Lăng Vũ Hoa đài vọng Đại giang