13/11/2019 16:23Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Đáp Vương thập nhị hàn dạ độc chước hữu hoài
答王十二寒夜獨酌有懷

Tác giả: Lý Bạch - 李白

Thể thơ: Thất ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 26/01/2015 14:23

 

Nguyên tác

昨夜吳中雪,
子猷佳興發。
萬里浮雲卷碧山,
青天中道流孤月。
孤月滄浪河漢清,
北斗錯落長庚明。
懷餘對酒夜霜白。
玉床金井冰崢嶸。
人生飄忽百年內,
且須酣暢萬古情。
君不能狸膏金距學斗雞,
坐令鼻息吹虹霓。
君不能學哥舒,
橫行青海夜帶刀。
西屠石堡取紫袍。
吟詩作賦北窗裏,
萬言不值一杯水。
世人聞此皆掉頭,
有如東風射馬耳。
魚目亦笑我,
謂與明月同。
驊騮拳跼不能食,
蹇驢得志鳴春風。
折楊黃華合流俗,
晉君聽琴枉清角。
巴人誰肯和陽春,
楚地猶來賤奇璞。
黃金散盡交不成,
白首為儒身被輕。
一談一笑失顏色,
蒼蠅貝錦喧謗聲。
曾參豈是殺人者?
讒言三及慈母惊。
與君論心握君手,
榮辱于余亦何有?
孔聖猶聞傷鳳麟,
董龍更是何雞狗!
一生傲岸苦不諧,
恩疏媒勞志多乖。
嚴陵高揖漢天子,
何必長劍拄頤事玉階。
達亦不足貴,窮不足悲。
韓信羞將絳灌比,
檷衡恥逐屠沽兒。
君不見李北海,
英風豪氣今何在!
君不見裴尚書,
土墳三尺蒿棘居!
少年早欲五湖去,
見此彌將鍾鼎疏。

Phiên âm

Tạc dạ Ngô trung tuyết,
Tử Du[1] giai hứng phát.
Vạn lý phù vân quyển bích sơn,
Thanh thiên trung đạo lưu cô nguyệt.
Cô nguyệt thương lãng Hà Hán[2] thanh,
Bắc Đẩu thác lạc Trường Canh[3] minh.
Hoài dư đối tửu dạ sương bạch,
Ngọc sàng[4] kim tĩnh băng tranh vanh.
Nhân sinh phiêu hốt bách niên nội,
Thả tu hàm sướng vạn cổ tình.
Quân bất năng ly[5] cao kim cự học đấu kê,
Toạ linh tỉ tức xuy hồng nghê.
Quân bất năng học Kha Thư[6],
Hoành hành Thanh Hải dạ đới đao,
Tây đồ Thạch Bảo thủ tử bào.
Ngâm thi tác phú bắc song lý,
Vạn ngôn bất trị nhất bôi thuỷ.
Thế nhân văn thử giai điệu đầu,
Hữu như đông phong xạ mã nhĩ.
Ngư mục diệc tiếu ngã,
Vị dữ minh nguyệt[7] đồng.
Hoa lưu quyền cục bất năng thực,
Kiển lư đắc chí minh xuân phong.
“Chiết dương[8]”, “Hoàng hoa[9]” hợp lưu tục,
Tấn quân thính cầm uổng “Thanh giác[10]”.
“Ba nhân[11]” thuỳ khẳng hoà “Dương xuân[12]”,
Sở địa do lai tiện kỳ phác[13].
Hoàng kim tán tận giao bất thành,
Bạch thủ vi nho thân bị khinh.
Nhất đàm nhất tiếu thất nhan sắc,
Thương dăng bối cẩm[14] huyên báng thanh.
Tằng Tham[15] khởi thị sát nhân giả?
Sàm ngôn tam cập từ mẫu kinh.
Dữ quân luận tâm ác quân thủ,
Vinh nhục vu dư diệc hà hữu?
Khổng thánh[16] do văn thương phụng lân,
Đổng Long[17] cánh thị hà kê cẩu!
Nhất sinh ngạo ngạn khổ bất hài,
Ân sơ môi lao chí đa quai.
Nghiêm Lăng[18] cao ấp Hán thiên tử,
Hà tất trường kiếm trụ di sự ngọc giai.
Đạt diệc bất túc quý, cùng bất túc bi.
Hàn Tín[19] tu tương Giáng, Quán tỉ,
Nễ Hành[20] sỉ trục đồ cổ nhi.
Quân bất kiến Lý Bắc Hải[21],
Anh phong hào khí kim hà tại!
Quân bất kiến Bùi thượng thư[22],
Thổ phần tam xích hao cức cư!
Thiếu niên tảo dục Ngũ Hồ khứ,
Kiến thử di tương chung đỉnh sơ.

Dịch nghĩa

Đêm qua trong tuyết rơi trên đất Ngô,
Tử Du nổi cao hứng.
Mây nổi vương trên núi biếc cả vạn dặm,
Vầng trăng cô đơn trôi trên trời xanh.
Trăng cô đơn lạnh lẽo, sông Ngân Hà trong veo,
Sao Bắc Đẩu lặn, sao hôm sáng.
Nỗi nhớ tràn đầy, uống rượu nhìn sương đêm trắng,
Băng đóng chênh vênh trên thành giếng và trục kéo nước quý giá.
Người đời trôi nổi vội vã mưu sinh trong trăm tuổi,
Cũng nên vui sướng với cái tình muôn thủa là uống rượu.
Ông không biết học chăm sóc gà chọi bằng bôi cao con ly và gắn cựa sắt,
Cũng không biết ngồi nín thở mà thổi tan cầu vồng.
Ông không học theo Kha Thư Hàn,
Ban đêm đeo đao tung hoành nơi Thanh Hải,
Chém giết phía tây lấy được thành Thạch Bảo, được thưởng chiến bào tía.
Ngâm thơ làm phú nơi song cửa phía bắc,
Cả vạn lời cũng không đáng giá một chén nước lạnh.
Người đời nghe những thứ đó đều lắc đầu,
Tựa như gió đông thổi vào tai ngựa.
Mắt cá cũng làm ta bị chê cười,
Vì lầm tưởng là ngọc cá.
Ngựa hoa lưu bị buộc chật hẹp không chịu ăn,
Lừa chậm chạp đắc chí hí vang trong gió xuân.
Bài “Chiết dương liễu” hát chung với “Hoàng hoa” không hay,
Vua nhà Tấn nghe đàn làm uổng phí bài “Thanh giác”.
Ai có thể khẳng định là bài “Ba nhân” hoà được với bài “Dương xuân”,
Đất Sở tới nay vẫn coi nhẹ các viên ngọc chưa mài hình thù kỳ lạ.
Tiền vàng hết sạch thì việc giao dịch không thành công,
Nhà nho già tóc bạc thân bị đời coi khinh vì nghèo.
Một lời đàm tiếu cũng đủ làm mặt thất sắc,
Huống bọn nhặng xanh mặc gấm vang tiếng chê bai.
Tằng Tham há là kẻ sát nhân sao?
Nhưng ba người nói sai sự thật cũng làm bà mẹ hiền lành thất kinh.
Nắm tay ông bàn về chữ tâm,
Về phần tôi vinh hay nhục?
Đức Khổng Tử còn thương phụng và lân,
Đổng Long có đúng là hạng gà chó!
Cả đời ngạo mạn khổ vì không ai hoà hợp,
Ân với sơ, mối lái với lao động có nhiều trái ngược.
Nghiêm Lăng đứng trên cao vái xuống thiên tử nhà Hán,
Đâu cần mang kiếm dài ngậm miệng phụng sự triều đình.
Thành đạt chẳng màng phú quý, cùng cực cũng chẳng buồn đau.
Hàn Tín thẹn không bằng được Giáng và Quán,
Nễ Hành xấu hổ nếu phải chạy theo bọn giết heo bán rượu.
Ông chẳng biết Lý Bắc Hải,
Anh hùng hào kiệt nay còn đâu!
Ông chẳng biết thượng thư họ Bùi,
Mộ sâu ba thưởc nơi cỏ dại gai góc!
Phạm Lãi tuổi trẻ đã mong tới Ngũ Hồ quy ẩn,
Thấy những gương đó để bớt ham phú quý đi.

Bản dịch (của Bản dịch của Nguyễn Minh)

Đêm trước Ngô rơi tuyết,
Tử Du chợt hứng cao.
Vạn dặm mây bồng vương núi biếc,
Trời xanh vầng nguyệt nhẹ phiêu diêu.
Ngân hà rạng, ánh trăng đơn lạnh,
Bắc đẩu tà, sao hôm sáng soi.
Nhớ quá, say nhìn sương tối trắng,
Trục quay, thành giếng đóng băng ngời.
Người trần vội vã trôi trăm tuổi,
Chén rượu tìm vui hãy vạn đời.
Ông chẳng học chăm gà chọi, cao ly cựa sắt.
Không ngưng thở, thổi tán cầu vồng.
Cũng chưa học Kha Thư đó,
Đêm giắt đao, Thanh Hải dọc ngang.
Thạch Bảo chiếm xong mang áo tía,
Ngâm thơ làm phú bắc song vang.
Vạn lời, ly nước trong chưa đáng,
Thứ đó người nghe cũng chán tràn.
Tựa gió đông lùa tai ngựa vậy.
Bị chê lầm mắt cá,
Tưởng là hạt minh châu.
Bị buộc, hoa lưu chẳng chịu ăn,
Chú lừa chậm chạp hí mừng xuân.
Hoàng hoa cùng Chiết giang chi hát,
Vua Tấn nghe Thanh giác phí chăng?
Khó thể Ba nhân, Đường xuân tấu,
Ngọc chưa mài, Sở cũng không tin.
Tiền vàng hết, dịch giao nào được,
Tóc bạc nho già chúng rẻ khinh.
Đàm tiếu một lời làm thất sắc,
Nhặng xanh áo gấm rộn chê mình.
Tằng Tham có sát nhân đâu vậy,
Sai báo ba lần, mẹ thất kinh.
Hãy luận chữ tâm cho chặt chẽ,
Xem phần mình rõ nhục hay vinh.
Khổng Khâu thương phụng lân là thế,
Có đúng Đổng Long hạng chó gà!
Ngạo mạn cả đời hoà hợp khó,
Ân sơ, mai mối giống chăng là.
Nghiêm Lăng chầu bái vua cao kính,
Có phải mang gươm dài, nín thinh phụng sự đâu.
Thành: nào cần phú quý, cùng: chẳng phải buồn đau.
Hàn Tín hổ không bằng Giáng Quán,
Nễ Hành thẹn với bọn cùng đinh.
Anh chẳng thấy Lý Bắc Hải,
Hào kiệt anh hùng nay vắng tênh.
Anh có biết Bùi thượng thư,
Mồ sâu ba thước bồng gai cỏ,
Ngũ Hồ, Phạm Lãi học gương xưa.
Cái miếng đỉnh chung hãy nhớ chừa.
Lý Bạch viết bài này khoảng năm 752, lúc đó Đường Huyền Tông say mê Dương Quý Phi, bỏ bê triều chính, loạn An-Sử sắp nổi lên. Vương thập nhị là một người bạn của tác giả Lý Bạch, thân thế không rõ.

[1] Họ Vương, người đất Ngô (nay là tỉnh Giang Tô), sinh sống tại Sơn Âm. Một đêm tuyết rơi lạnh, uống rượu, nhớ bạn, chống thuyền đến trước nhà bạn lại quay về. Có người hỏi tại sao? Du đáp: “Có hứng thì đi, hết hứng thì về, đâu cần thấy bạn”. Vương thập nhị lấy ý đó để viết một bài thơ cho họ Lý, đại ý thương cho Lý có tài mà không được trọng dụng. Lý hồi đáp bằng bài này.
[2] Tức sông Ngân Hà trên bầu trời ban đêm.
[3] Chỉ sao hôm.
[4] Nghĩa thông thường là cái giường, nghĩa trong bài là trục kéo nước giếng.
[5] Giống vật như con chồn. Bôi cao con ly lên đầu gà mình cho gà đối phương ngửi mùi ly mà khiếp sợ và gắn thêm cựa sắt cho gà chọi.
[6] Tức Kha Thư Hàn, một danh tướng đời Đường là khắc tinh của rợ Thổ Phồn. Năm 749, ông lấy lại được đất cũ Thanh Hải. Năm sau, ông lấy được thành Thạch Bảo của địch, được phong tới ngự sử đại phu, mặc triều phục màu tía.
[7] Nghĩa thông thường là trăng sáng, nghĩa trong bài là ngọc cá.
[] Tên một giống ngựa tốt.
[8, 9, 11, 12] Chiết dương, Hoàng hoa, Ba nhân và Dương xuân đều là các nhạc khúc cổ thông dụng trong đời Đường.
[10] Thanh giác là nhạc điệu cổ rất bi tráng, dành cho các người có tài đức mới được nghe. Vua nước Tấn thời Xuân Thu là Bình Công tài hèn đức mỏng nhưng cũng ra lệnh cho nghệ nhân tấu đàn cầm cho ông nghe. Kết quả, cung đình rung động rớt cả ngói, và nước Tấn bị hạn hán ba năm liền.
[13] Tích Biện Hoà người nước Sở vào núi kiếm được một cục đá xù xì, cho là ngọc quý, hiến lên vua Sở. Bạo chúa phạt tội khi quân, cho chặt bàn chân trái. Vua sau lên, họ Hoà đem đá hiến nữa, bạo chúa chặt nốt bàn chân phải. Lại vua mới nữa lên, họ Hoà lại đem đá hiến, và khóc lóc thảm thiết. Vua cho phá đá, thấy có ngọc thật, và ngọc đó cho gọi là ngọc Hoà.
[14] Là nhặng xanh mặc gấm, trong bài ý chỉ bọn tiểu nhân sàm tấu điều không có lên vua.
[15] Học trò của Khổng Tử. Có kẻ sát nhân mang cùng tên. Có người đến báo với mẹ ông là ông giết người. Bà đang ngồi dệt vải, nói bà không tin, và vẫn ngồi làm việc. Lát sau có hai người nữa lại nói như vậy, bà sinh nghi, bỏ khung cửi, vượt tường chạy trốn.
[16] Tức Khổng Tử. Ngài tin rằng khi phụng và lân xuất hiện là có thái bình.
[17] Là bầy tôi tin yêu của vua Tần Phù Sinh thời Nam Bắc triều, phong ông tới hữu bộc xạ. Tể tướng Vương Đoạ ganh ghét, nói coi ông như gà chó nên không thèm nói chuyện. Về sau Đoạ bị Long hại chết vì lời nói đó.
[18] Tức Nghiêm Quang, tự Tử Lăng, người đời Hán, bạn học thân thiết của Lưu Tú. Khi Tú diệt được Vương Mãng, khôi phục lại nhà Hán, lên ngôi thiên tử, mời Quang ra làm quan cùng hưởng phú quý. Quang không nhận, lui vào rừng núi câu cá sống đời ẩn dật.
[19] Là danh tướng đã giúp Lưu Bang mở ra nhà Hán. Trong bài tả ông vẫn e ngại không bằng được hai người tên là Giáng và Quán.
[20] Người đời Tam Quốc, giỏi thơ văn nhưng rất kiêu ngạo. Nhận lệnh thừa tướng Tào Tháo đi sứ Kinh châu, nhân có một lễ hội, giới văn học và quan quyền tới hội đó rất nhiều. Có người khuyên ông nên tới đó làm quen, Hành nói: “Ta mà phải tới với bọn đồ tể và bán rượu đó sao?”
[21] Tên thật là Lý Ung, có thời gian làm thái thú Bắc Hải. Ông có tài, quan làm tới điện trung thị ngự sử. Nhưng tể tướng Lý Lâm Phủ không ưa. Nhân phạm lỗi, ông bị tể tướng cho đánh bằng gậy tới chết.
[22] Bùi Đôn Phúc, làm thượng thư bộ hình. Tể tướng Lý Lâm Phủ cũng không ưa ông, kiếm cách biếm ông đi Chuy châu làm thái thú.
[] Tên gọi chung năm cái hồ lớn liền nhau, nay ở giữa hai tỉnh Giang Tô và Chiết Giang. Thời Xuân Thu, Phạm Lãi sau khi giúp Việt vương diệt được Ngô vương, bèn từ quan, tới sống an nhàn nơi đây để tránh hoạ vua chúa khi thành công thường giết hại công thần.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Lý Bạch » Đáp Vương thập nhị hàn dạ độc chước hữu hoài