22/11/2019 04:49Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Hí đề trai bích
戲題齋碧

Tác giả: Viên Hoằng Đạo - 袁宏道

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Minh
Đăng bởi tôn tiền tử vào 08/02/2019 13:07

 

Nguyên tác

一作刀筆吏,
通身埋故紙。
鞭笞慘容顏,
簿領枯心髓。
奔走疲馬牛,
跪拜羞奴婢。
複衣炎日中,
赤面霜風裏。
心若捕鼠貓,
身似近羶蟻。
舉眼盡無歡,
垂頭私自鄙。
南山一頃豆,
可以沒餘齒。
千鍾曲與糟,
百城經若史。
結廬甑簞峰,
繫艇車臺水。
至理本無非,
從心即為是。
豈不愛熱官,
思之爛熟爾。

Phiên âm

Nhất tác đao bút lại[1],
Thông thân mai cố chỉ[2].
Tiên xuy[3] thảm dung nhan,
Bạ lĩnh khô tâm tuỷ.
Bôn tẩu bì mã ngưu,
Quỵ bái tu nô tỷ (tỳ).
Phức y[4] viêm nhật trung,
Xích diện[5] sương phong lý.
Tâm nhược bộ thử miêu,
Thân tự cận thiện nghĩ[6].
Cử nhãn tận vô hoan,
Thuỳ đầu tư tự bỉ.
Nam sơn[7] nhất khoảnh đậu,
Khả dĩ một dư xỉ.
Thiên chung khúc dữ tào,
Bách thành[8] kinh nhược sử.
Kiết lư Tặng Đạm phong[9],
Hệ đĩnh Xa Đài[10] thuỷ.
Chí lý bản vô phi,
Tòng tâm tức vi thị.
Khởi bất ái nhiệt quan,
Tư chi lạn thục[11] nhĩ.

Dịch nghĩa

Bắt đầu làm chức lại cầm dao bằng bút
Người vùi trong đám giấy tờ cũ rích
Nhìn đòn vọt làm cho mặt mày thảm hại
Sổ sách làm khô héo tâm tuỷ
Chạy vạy mệt thân trâu ngựa
Quỳ lạy như nô tì thấy thẹn
Ngày nóng bức vẫn phải mặc áo kép
Trời gió sương cũng phải phơi mặt ra đỏ lấc
Lòng cẩn thận như mèo bắt chuột
Thân như gần mùi hôi hám của cừu
Nhìn ra chẳng có gì là vui vẻ
Cúi đầu tự nghĩ rồi tự khinh
Một khoảnh đậu ở núi Nam
Cũng có thể dư ăn cả một đời
Ủ nghìn chung rượu
Trăm thành chứa kinh rồi sử
Dựng lều đựng cơm vào giỏ ở núi Tặng
Buộc thuyền ở hồ Xa Đài
Cái gì đến nhẽ thì không sai
Làm theo lòng là đúng
Há đâu không thích làm quan
Suy nghĩ nát cả lòng.

Bản dịch (của Bản dịch của Lê Xuân Khải)

Làm chức lại đao bút
Giấy tờ ngập quanh thân
Roi vọt mặt mày thảm
Sổ sách héo ruột gan
Ngựa trâu mệt chạy vạy
Quỳ lạy thẹn tôi hèn
Trời nóng mặc áo kép
Mặt đỏ dưới sương hàn
Lòng như mèo bắt chuột
Thân tựa cừu hôi gần
Chẳng gì vui trước mắt
Cúi đầu tự khinh thân
Nam Sơn một khoảnh đậu
Trọn đời cũng thừa ăn
Nghìn chung men ủ rượu
Trăm thành kinh sử tràn
Lều giỏ lên núi Tặng
Hồ Xa Đài buộc thuyền
Đến nhẽ không sai trái
Theo lòng ắt là nên
Làm quan đâu có ghét
Nghĩ mà nẫu ruột gan.
Tác giả viết bài này vào hồi đương nhiệm tri huyện Ngô, qua thơ ta thấy tác giả chán ghét con đường làm quan, nhất là làm tri huyện. Cùng năm đó, trong thư gửi cho bạn tác giả có viết: “Đời làm quan rất khổ, làm tri huyện càng khổ hơn; làm tri huyện huyện Ngô thì nỗi khổ còn tăng lên vạn lần, chẳng khác gì thân trâu ngựa. Vì sao? Quan trên như mây, khách qua lại như mưa, sổ sách như núi, tiền thóc như biển, sớm tối chiều chuộng đắn đo, lúc nào cũng sợ không ổn; khổ thay, khổ thay!”

[1] Chỉ công việc văn thư của viên lại nhỏ, đây chỉ khi tác giả làm tri huyện Ngô.
[2] Chỉ văn án, công văn.
[3] Đánh đòn, phạt gậy, trong lòng không nỡ khi tra tấn tù phạm.
[4] Áo kép. Quan viên thời xưa ra mắt quan trên ngoài áo thường còn phải mặc thêm lễ phục.
[5] Mặt phơi ra trước sương sa gió rít nên đỏ lấc.
[6] Mùi hôi của cừu, chỉ mùi hôi hám nơi quan trường.
[7] Tức Chung Nam sơn, nơi trước nay kẻ sĩ ở đó để lánh đời.
[8] Ngồi giữ trăm thành, chỉ cất giữ được rất nhiều sách. Bắc sử - Lý Bật truyện chép: Trong tay bậc trượng phu có vạn cuốn sách, làm gì còn rảnh rang để quay mặt về phương nam với trăm toà thành (chỉ làm vua).
[9] Chỉ núi Tặng ở đông nam Hán Xuyên, Hồ Bắc.
[10] Hồ ở gần quê hương tác giả.
[11] Nhừ nát. Hai câu này điển từ Bắc sử - Vương Hy truyện: “Phi bất ái tố nhiệt quan, đãn tư chi lạn thục nhĩ” (Không phải không muốn làm quan, Song đã nghĩ nát ra rồi).

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Viên Hoằng Đạo » Hí đề trai bích