08/12/2019 03:31Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Thướng hậu viên sơn cước
上後園山腳

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 25/02/2015 13:41

 

Nguyên tác

朱夏熱所嬰,
清旭步北林。
小園背高岡,
挽葛上崎崟。
曠望延駐目,
飄搖散疏襟。
潛鱗恨水壯,
去翼依雲深。
勿謂地無疆,
劣于山有陰。
石榞遍天下,
水陸兼浮沈。
自我登隴首,
十年經碧岑。
劍門來巫峽,
薄倚浩至今。
故園暗戎馬,
骨肉失追尋。
時危無消息,
老去多歸心。
志士惜白日,
久客藉黃金。
敢為蘇門嘯,
庶作梁父吟。

Phiên âm

Chu hạ nhiệt sở anh,
Thanh húc bộ bắc lâm.
Tiểu viên bối cao cương,
Vãn cát thướng kỳ câm.
Khoáng vọng diên trú mục,
Phiêu diêu tán sơ khâm.
Tiềm lân hận thuỷ tráng,
Khứ dực y vân thâm.
Vật vị địa vô cương,
Liệt vu sơn hữu âm.
Thạch biên biển thiên hạ,
Thuỷ lục kiêm phù trầm.
Tự ngã đăng lũng đầu,
Thập niên kinh bích sầm.
Kiếm Môn lai Vu Giáp,
Bạc ỷ hạo chí kim.
Cố viên ám nhung mã,
Cốt nhục thất truy tầm.
Thì nguy vô tiêu tức,
Lão khứ đa quy tâm.
Chí sĩ tích bạch nhật,
Cửu khách tạ hoàng câm.
Cảm vi Tô Môn khiếu[1],
Thứ tác "Lương Phủ ngâm[2]".

Dịch nghĩa

Mùa hè đỏ bị cái nóng trói buộc,
Nên lúc mặt trời mới mọc đi tản bộ phía bắc rừng.
Khu vườn nhỏ xoay lưng xuống gò cao,
Lách dây leo để lên dốc đồi.
Chăm chú nhìn quãng không,
Áo mỏng tung bay phần phật.
Cá chép giận nước ròng,
Cánh chim bay khuất trong mây mù.
Chớ nói đất không có biên giới,
Kém cả núi còn có phía nam.
Đá với cây biên lan khắp nơi,
Đất cao với vũng nước thấp cứ nhấp nhô.
Từ lúc tôi lên tới chỏm đồi cao,
Kể ra đã mười năm trải qua rừng xanh.
Từ Kiếm Môn tới Vu Giáp,
Cho tới giờ ít khi ở lâu một nơi.
Quê nhà mờ mịt vì chiến trận,
Ruột thịt thất lạc không truy tầm được.
Lúc nguy ngập không tin tức,
Càng về già càng mong trở về quê.
Là người có lòng nên tiếc thời còn sung sức,
Thân khách mãi nhờ vào tấm lòng vàng.
Dám làm Nguyễn Tịch kêu dài ở Tô Môn,
Thôi thì đành ngâm bài Lương Phủ vậy.

Bản dịch (của Bản dịch của Phạm Doanh)

Hè đỏ nóng bám hoài,
Bắc rừng sáng đi tới.
Vườn nhỏ dựa đồi cao,
Leo đỉnh cao, vạch lối.
Mắt ngắm cảnh bao la,
Áo mỏng bay phất phới.
Cá lặn lo nước ròng,
Chim bay vút mây tối.
Chớ nói đất không cùng,
Có rìa, còn kém núi.
Cây, đá khắp vùng trời,
Đất, nước cùng chìm nổi.
Từ lúc leo đỉnh đồi,
Mười năm chốn xanh trải.
Kiếm Môn rồi Vu Sơn,
Tới giờ cứ luôn đổi.
Làng cũ mờ chiến tranh,
Anh em hết theo dõi.
Lúc nguy chẳng có tin,
Càng già quê càng ngõi.
Có chí tiếc tuổi xanh,
Lòng vàng ở nhờ mãi.
Tô Môn dám réo vang,
"Lương Phủ ngâm" đành phải.
(Năm 767)

Lời tự: "Viên quan tống thái bả, bản số nhật khuyết. Thẩn khổ cự, mã xỉ. Yểm hồ gia sơ. Thương tiểu nhân đố hại quân tử. Thái bất túc đạo dã, tỉ nhi tác thi." 園官送菜把。本數日闕。矧苦苣、馬齒。掩乎嘉蔬。傷小人妒害君子。菜不足道也。比而作詩。 (Quan coi vườn đem rau nộp, một số ngày còn thiếu. Còn lấy rau diếp xoăn, rau sam, thêm vào rau non tươi. Đau lòng vì lũ tiểu nhân làm hại bậc quân tử, rau không đủ nói vậy, so sánh mà viết nên bài.)

[1] Do chữ "Tô Môn trường khiếu" trong "Tấn thư", chỉ thái độ cao ngạo. Nguyễn Tịch (210-263), một trong Trúc Lâm thất hiền, nghe nói trong dinh có nhiều rượu, xin vào đó làm Bộ binh hiệu uý để có rượu uống. Sau ông lang thang sống nơi hoang dã.
[2] Gốc từ dân ca vùng Sơn Đông. Thời Tam Quốc được Gia Gát Lượng khi còn ở ẩn nơi Nam Dương thường ngâm nga tỏ ý chí mình.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Thướng hậu viên sơn cước