05/12/2020 23:26Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Phương Nghi oán
芳儀怨

Tác giả: Triều Bổ Chi - 晁補之

Thể thơ: Thất ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Bắc Tống, Liêu
Đăng bởi Vanachi vào 13/10/2013 21:29

 

Nguyên tác

金陵宮殿春霏微,
江南花發鷓鴣飛。
風流國主家千口,
十五吹簫粉黛稀。
滿堂詩酒皆詞客,
拭汗爭看平叔白。
後庭一曲風景改,
收淚臨江悲故國。
令公獻籍朝未央。
敕書築第優降王。
魏俘曾不輸織室,
供奉一官來武彊。
秦淮潮水鍾山樹,
塞北江南易懷土。
雙燕清秋夢柏梁,
吹落天涯猶並羽。
相隨未是斷腸悲,
黃河應有卻還時。
寧知翻手一朝事?
咫尺河山不可期。
倉皇三鼓滹沱岸,
良人白馬今誰見?
國亡家破一身存,
薄命如蓬信流轉。
芳儀加我名字新,
教歌遣舞不由人。
採珠拾翠衣裳好,
深紅暗晝驚沙塵。
陰山射虎邊風急,
嘈雜琵琶酒闌泣。
無言數遍天河星,
只有南箕近鄉邑。
當年千指渡江來,
千指不知身獨哀。
中原骨肉又零落,
黃鵠寄意何當回。
生男自有四方志,
女子那知出門事?
君不見李陵椎髻老窮邊,
丈夫漂泊尤堪憐。

Phiên âm

Kim Lăng cung điện xuân phi vi,
Giang Nam hoa phát giá cô phi.
Phong lưu quốc chủ gia thiên khẩu,
Thập ngũ xuy tiêu phấn đại hy.
Mãn đường thi tửu giai từ khách,
Thức hãn tranh khan Bình Thúc bạch[1].
“Hậu đình[2]” nhất khúc phong cảnh cải,
Thu lệ lâm giang bi cố quốc[3].
Lệnh công[4] hiến tịch[5] triều Vị Ương.
Sắc thư[6] trúc đệ ưu hàng vương.
Nguỵ phu[7] tằng bất thâu chức thất,
Cung phụng[8] nhất quan lai Vũ Cương.
Tần Hoài triều thuỷ Chung sơn thụ,
Tái bắc Giang Nam dị hoài thổ.
Song yến thanh thu mộng Bách Lương[9],
Xuy lạc thiên nhai do tịnh vũ.
Tương tuỳ vị thị đoạn trường bi,
Hoàng Hà ưng hữu khước hoàn thì.
Ninh tri phiên thủ nhất triều sự?
Chỉ xích hà sơn bất khả kỳ.
Thương hoàng tam cổ Hô Đà[10] ngạn,
Lương nhân bạch mã kim thuỳ kiến?
Quốc vong gia phá nhất thân tồn,
Bạc mệnh như bồng tín lưu chuyển.
Phương Nghi[11] gia ngã danh tự tân,
Giáo ca khiển vũ bất do nhân.
Thái châu thập thuý y thường hảo,
Thâm hồng ám trú kinh sa trần.
Âm sơn[12] xạ hổ biên phong cấp,
Tào tạp tỳ bà tửu lan khấp.
Vô ngôn sổ biến Thiên Hà tinh,
Chỉ hữu nam Cơ[13] cận hương ấp.
Đương niên thiên chỉ độ giang lai,
Thiên chỉ bất tri thân độc ai.
Trung Nguyên cốt nhục[14] hựu linh lạc,
Hoàng hộc ký ý hà đương hồi.
Sinh nam tự hữu tứ phương chí,
Nữ tử na tri xuất môn sự?
Quân bất kiến: Lý Lăng[15] truỳ kết lão cùng biên,
Trượng phu phiêu bạc vưu kham liên.

Dịch nghĩa

Cung điện Kim Lăng xuân sang mưa phủ kín
Đất Giang Nam hoa nở chim giá cô bay
Vua ăn chơi nhà nghìn khẩu
Kén nữ trẻ mười lăm vào thổi tiêu
Hầu tiệc rượu đầy nhà toàn là từ khách cả
Gạt mồ hôi, đua xem da của Bình Thúc trắng
Một khúc “Hậu đình hoa” bộ mặt đất nước thay đỏi
Gạt lệ qua sông, buồn vì mất nước
Lẹnh công dâng sổ sách lên triều đình ở cung Vị Ương
Sắc thư ban ra xây nhà ưu tiên cho vua hàng
Tù bắt được chưa từng sang nhà dệt
Một viên quan cung phụng được phái về đất Vũ Cương
Nước thuỷ triều sông Tần Hoài, cây núi Chung Sơn
Giang Nam lên ải bắc dễ gây nỗi nhớ quê
Thu sang đôi én mơ về đài Bách Lương
Gió thổi trôi dạt tận chân trời vẫn còn chắp cánh
Còn có nhau chưa phải là nỗi đoạn trường
Hoàn Hà rồi cũng có ngày trở lại
Có ngờ đâu việc một triều như trở bàn tay
Đời người gang tấc không thể lường được
Hãi hùng trước mấy hồi trống bên bờ sông Hô Đà
Ngựa trắng của chồng nay không ai còn thấy
Nhà tan nước mất một thân còn lại
Tin câu nói lưu truyền mệnh bạc như mây
Ta lại thêm cái tên mới là Phương Nghi
Dạy ca bắt múa không tự mình
Mạc xiêm áo đẹp, đeo châu ngọc
Mẫu sặc sỡ trông thấy bụi Hồ mà sợ
Gió thổi mạnh bắn hổ Âm Sơn
Ồn ã tiếng tỳ bà rượu tan lại khóc
Lẳng lặng đến sao Thiên Hà
Chỉ có sao Cơ ở phía nam là gần quê
Năm đó qua sông hàng nghìn người
Nghìn người không biết chỉ riêng thân là buồn thương
Ruột thịt ở Trung Nguyên tàn tạ hết
Chim hoàng hộc đưa thư bao giờ cho tới nơi
Sinh con trai tự có chí bốn phương
Con gái biết việc gì ngoài cửa
Bác chẳng thấy: Lý Lăng búi tóc kiểu Hồ, cuối đời thương khóc
Bậc trượng phu phiêu bạt còn đáng thương nữa là.

Bản dịch của Lê Xuân Khải

Điện Kim Lăng xuân sang mây phủ
Giá cô bay hoa nở Giang Nam
Nhà nghìn khẩu vua chơi ham
Thổi tiêu son phấn mười lăm tuổi vừa
Hầu tiệc rượu toàn là từ khách
Lau mồ hôi, Bình Thúc tranh xem
Khúc "Hậu đình" mất giang san
Buồn vì mất nước lệ tràn qua sông
Cung Vị Ương lệnh công dâng sớ
Sắc thư xây nhà ở hàng vương
Nguỵ phù nhà dệt chẳng sang
Theo quan cung phụng ra ngoài Vũ Cương
Cậy Chung San, Hoài dâng triều dậy
Tái bắc rầy nhớ bấy Giang Nam
Đôi én thu mộng Bách Lương
Chân trời trôi dạt vẫn lông cánh liền
Vẫn bên nhau đoạn trường đâu phải
Hoàng Hà rồi trở lại có ngày
Việc một triều lật bàn tay
Làm sao lường nổi đời người tấc gang
Bờ Hô Đà hãi hùng tiếng trống
Ngựa trắng chồng chốc chẳng thấy đâu
Nhà tan nước mất thêm này
Lời rằng mệnh bạc như mây vẫn truyền
Thêm Phương Nghi cái tên mới mẻ
Dạy múa ca không thể theo mình
Áo xiêm châu báu lung linh
Sắc màu sặc sỡ thấy kinh Hồ trần
Gió thổi mạnh Âm San bắn hổ
Tiếng tỳ bà lệ nhỏ tiêu tan
Lặng thầm đếm dải sao Ngân
Mỗi sao Cơ thấy là gần quê hương
Hàng nghìn người qua sông năm đó
Nghìn chẳng hay riêng khổ một thân
Tan đần cốt nhục Trung Nguyên
Gửi thơ hoàng hộc cách ngăn dặm trường
Sinh con trai bốn phương chí lớn
Việc bên ngoài phải phận gái chăng?
Tủi hờn bác thấy Lý Lăng?
Mày râu phiêu bạt đáng thương nữa là?
Bài này tuyển từ Kê lặc tập quyển 10, bản Tứ khố toàn thư. Tác giả làm bài thơ này vì cảm thương trước thân phận người con gái của Lý Cảnh. Sau khi Nam Đường hàng Tống, con gái của Trung Chủ Lý Cảnh được gả cho quan cung phụng họ Tôn, sau bị Thánh Tông Liêu Trung bắt được, phong là Phương Nghi, sinh được một con gái. Triệu Chí Trung từng làm hàn lâm học sĩ ở Liêu, viết quyển Lỗ đình tạp ký có chép việc này. Khi tác giả làm giáo thụ Quốc Tử Giám, xem thấy sách này có chép cuộc đời chìm nổi của người con gái họ Lý, đem lòng thương cho số phận của nàng, nên làm bài thơ này.

[1] Bình Thúc là tên chữ của Hà Án thời Tam Quốc. Thế thuyết tân ngữ: “Án dáng vẻ đẹp, mặt rất trắng, Minh Đế ngỡ là Án thoa phấn. Giữa mùa hè, đưa bánh hấp nóng cho Án ăn, mồ hôi toát ra, đế dùng ảo đỏ tự lau, mầu da của Án vẫn trắng như thế.” Tác giả dùng hình ảnh này để mô tả cuộc sống dâm dật của vua tôi Lý Cảnh. Có bản chép câu này là “Đoạt cẩm huy hào tại dao tịch” 奪錦揮毫在瑤席 (Tranh gấm múa bút trên chiếu ngọc).
[2] Tức khúc Ngọc thụ hậu đình hoa do Trần Hậu Chủ làm, vì đắm đuối hưởng lạc để đến nỗi mất nước.
[3] Con trai Lý Cảnh là Hậu Chủ Lý Dục bị quân Tống lấy mất nước, bắt làm tù, phải dời Kim Lăng vượt sông lên bắc, buồn quá có làm mấy câu thơ: “Vân lung viễn tụ sầu thiên phiến, Vũ đả cô chu lệ vạn hàng, Huynh đệ tứ nhân tam bách khẩu, Bất kham nhàn toạ tế tư lường” 雲籠遠岫愁千片,雨打孤舟淚萬行。兄弟四人三百口,不堪閑坐細思量 (Hang núi mây lồng buồn lớp lớp, Thuyền sông mưa gõ lệ hàng hàng, Anh em thân thích ba trăm khẩu, Khổ phải ngồi rưng nghĩ kỹ càng). Con gái Lý Cảnh ắt cũng nằm trong số người này.
[4] Trào Bân, đại tướng Tống. Trào vâng mệnh đánh Nam Đường, thắng lợi trở về dâng tù ở cửa Minh Đức.
[5] Chỉ sổ sách, bản đồ dùng để chỉ cung nhà Tống.
[6] Lý Dục đã hàng, Tống Thái Tổ sai làm nhà ưu đãi và phong là Vi Mệnh Hầu.
[7] Chỉ con gái Lý Cảnh. Nhà dệt (chức thất), nơi chăm việc dệt lụa trong cung vua nhà Hán. Khi Tấn đã cướp ngôi Nguỵ, lùa con gái tôn thất vào nhà dệt. Còn Lý Dục hàng Tống, con gái tôn thất được đối xủ rộng rãi, không lùa vào nhà dệt làm việc mà tuỳ ý chọn để gả cho dân, thế là con gái Lý Cảnh lấy cung phụng họ Tôn.
[8] Tên quan chức túc trực bên vua Tống có đông, tây cung phụng là quan võ, nên họ Tôn sau này làm độ giám Vũ Cương. Vũ Cương ở tây nam Hải Bắc ngày nay, gần biên giới Tống Liêu.
[9] Đây chỉ Biện Kinh của nhà Tống.
[10] Tên sông, chiến sự phát sinh ở đây, Tôn cung phụng tử trận, con gái Lý Cảnh lại một lần nữa bị Liêu Bắt.
[11] Phong hiệu của phi tần.
[12] Núi bên đất Liêu.
[13] Tên sao ở phương Nam.
[14] Chỉ cung phụng họ Tôn.
[15] Trướng nhà Hán hàng Hung Nô, phải búi tóc kiểu người Hồ, sống theo kiếp sống người Hồ, thân thế gần giống như Phương Nghi.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Triều Bổ Chi » Phương Nghi oán