29/09/2020 04:23Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Hồi 01

Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu - 阮廷沼

Thể thơ: Lục bát; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 12/11/2005 17:32

 

1. Ngày nhàn xem truyện “Tam công[1]
Thương người hiền sĩ sinh không gặp đời
Cuộc cờ thúc quí[2] đua bơi
Mấy thu vật đổi sao dời, thương ôi!
5. Kể từ Thạch Tấn[3] ở ngôi
U Yên mấy quận cắt bồi Khiết Đan[4]
Sinh dân nào xiết bùn[5] than
U Yên trọn, cũng giao bàn về Liêu
Theo trong người kiệt rất nhiều
10. Ôm tài giấu tiếng làm tiều, làm ngư
Nước non theo thú ẩn cư
Thờ trên nuôi dưới, nên hư mặc trời
Lại thêm Phật, Lão đua lời
Nghĩ lòng người với đạo đời[6] thêm thương!
15. Nhà năm ba gánh cương thường
Phận ai nấy giữ, trọn giường[7] thời thôi
Đời vương đời đế xa rồi
Nay Di mai Hạ[8] biết hồi nào an!
Năm trăm vận ở sông Vàng[9]
20. Nước còn đương cáu[10], không màng thánh nhân
Đã cam hai chữ “tỵ Tần[11]
Nguồn Đào tìm dấu, non xuân ruổi miền
Có tên rằng Mộng Thê Triền[12]
Tuổi gần bốn chục, nhân duyên năm lần
25. Nhà nghèo ở núi Bạch Vân
Dẹp văn theo võ, tách thân làm tiều
Ngày ngày đốn củi rừng Nghiêu
Hái rau non Thuấn, phận nhiều lao đao
Đông Xuyên lại có người hào
30. Tên rằng Tử Phược họ Bào[13], làm ngư
Trong mình ba chục tuổi dư
Sinh con mười đứa bé thơ thêm nghèo
Ngược xuôi trên nước một chèo
Nay doi mai vịnh, nghề theo lưới chài
35. Họ Bào họ Mộng hoà hai
Trước theo nghề học đều tài bậc trung
Chẳng may gặp buổi đạo cùng
Treo kinh dẹp sử, lánh vòng loạn ly
Người nam kẻ bắc phân đi
40. Non sông rẽ bạn cố tri bấy chầy
Cách nhau mười mấy năm nay
Tình cờ lại đặng một ngày gặp đây
Ngư, Tiều mở tiệc vui vầy
Ngâm thi, uống rượu, đều bày chí xưa

Tiều ngâm thơ rằng:
Non xanh mấy cụm đội trời thu
Sưu thuế Tây Liêu chẳng đến đầu
Tên đã gác ngoài sân thúc quí
Mình liền dầm giữa suối Sào, Du[14]
Vui lòng bạn cũ thi vài cuốn
Rảnh việc ngày nay rượu một bầu
Chút phận riêng nương hơi núi rạng
Trăm năm ra sức dọn rừng nhu (nho)


Ngư ngâm thơ rằng:
Nghênh ngang trên nước một thuyền câu
Chèo sóng buồm giong, trải mấy thu
Ngày xế tấm mui che gió Tấn
Đêm chầy bếp lửa chói trời U
Mặc tình sở ngộ đời trong đục
Vui thú phù sinh bến cạn sâu
Trăm tuổi trọn nhờ duyên cá nước
Dù lòng ngao ngán giữa dòng nhu


45. Tiều rằng: sinh chẳng gặp thời
Thân đà đến ấy, nghĩ thôi thêm phiền
Lênh chênh chữ phận, chữ duyên
Lỡ Tiên, lỡ Phật, lỡ nguyền nho phong
Nhớ câu “quân tử cố cùng”[15]
50. Đèn trăng, quạt gió, non sông phận đành
Ngư rằng: hai chữ công danh
Hoàng lương[16] nửa gối, đã đành phôi pha
Thương câu “thế đạo đồi ba”
Ngày nay chưa biết mai ra lẽ nào!
55.Uống thêm vài chén rượu giao
Ngâm thi hoài cổ, để rao tiếng đời

Ngư, Tiều hoài cổ ngâm, ngụ ưu đạo ý (thử xướng, bỉ hoạ):
Từ thuở Đông Chu xuống đến nay
Đạo đời rậm rạp mấy ai hay
Hạ, Thương đường cũ gai bò lấp
Văn, Vũ nền xưa lúa trổ đầy
Năm bá[17] mượn vay, nhân nghĩa mọn
Bảy hùng[18] giành xé, lợi danh bay
Kinh Lân[19] mong dẹp tôi con loạn
Sử Mã khôn ngăn mọi rợ bầy
Dùi mõ Mặc, Dương[20] thêm chộn rộn
Tiếng chuông Phật, Lão rất vang ngầy
Lửa Tần, tro Hạng[21] vừa nguôi dấu
Am Hán, chùa Lương[22] lại réo dầy
Trong đám cửu lưu[23] đều nói tổ
Bên đường tam giáo[24] cũng xưng thầy
Khe Đào, động Lý nhiều đoàn trốn
Rừng Trúc, đình Lan lắm bạn say
Phép báu Thi, Thư dòng mọt nát
Màu xuê Lễ, Nhạc nhiễm sương bay
Mấy dòng biển nghiệt chia nguồn nước
Trăm chặng rừng hoang bít cội cây
Hơi chính ngàn năm về cụm núi
Thói tà bốn biển động vầng mây
Ngày nào trời đất an ngôi cũ
Mừng thấy non sông bặt gió tây

Nguồn: Ngư Tiều vấn đáp y thuật, Phan Văn Hùm hiệu đính và chú thích, Nhượng Tống tăng bình bổ chú, NXB Tân Việt, Saigon, 1952
[1] Do tác giả tự nghĩ ra.
[2] Đời suy loạn.
[3] Thạch Kính Đường lên ngôi vua năm 936, sử xưng Tấn Cao Tổ.
[4] Thuộc rợ Đông Hồ, sau đổi tên là nước Liêu. Muốn giữ ngôi vững vàng, Thạch Kính Đường cắt 16 châu (trong đó có châu U Yên) để dâng cho Khiết Đan.
[5] Do chữ “sinh dân đồ thán”, bùn và lầm cùng một nghĩa.
[6] Nhân tâm thế đạo.
[7] Giềng, tức giềng mối của nhân luân.
[8] Di: mọi rợ; Hạ: Hoa Hạ, nước Trung Hoa văn minh; ý nói cuộc thay đổi chính trị.
[9] Hoàng Hà 500 năm lại một lần trong, điềm báo thánh nhân ra đòi.
[10] Đục.
[11] Đào Tiềm đời Tấn làm bài “Đào Hoa nguyên ký” có nói ông chài ở Vũ Lăng vào Đào Hoa thôn gặp những người mà cha ông chạy loạn đời Tần vào đó. Nhân tích này hai chữ “tỵ Tần” (lánh Tần) chỉ việc chạy loạn, lánh nạn.
[12, 13] Hai tên này do tác giả tự nghĩ ra, do chữ “thê triền tử phược” (vợ buộc con trói) ý nói bận nỗi gia đình trần duyên; “mộng huyễn bào ảnh” (Kinh Kim Cương) nói về cảnh đời như chiêm bao, như bọt nước, như cái bóng.
[14] Sào Phủ, Hứa Do, hai ẩn sĩ đời vua Nghiêu.
[15] Sách “Luận ngữ”, thiên Vệ Linh Công: “quân tử cố cùng, tiểu nhân cùng tư lạm hỹ” người quân tử gặp bước cùng càng cố thủ tiết tháo, kẻ tiểu nhân gặp bước cùng buông lung làm điều quấy.
[16] Lữ Sinh đời Đường đến quán trọ, nằm đợi chủ nhà nấu kê (hoàng lương), ngủ quên mộng thấy lấy vợ đẻ con sinh cháu, giàu sang vinh hoa, phút tỉnh dậy thấy mất tất cả.
[17] Năm vị chúa chư hầu đã có công giúp các vua đời Đông Chu: Tề Hoàn, Tấn Văn, Tống Tương, Sở Trang, Tần Mục.
[18] Bảy nước tranh hùng thời Chiến Quốc: Tần, Triệu, Tề, Yên, Sở, Hàn, Nguỵ.
[19] Sách Xuân Thu, Khổng Tử cảm việc săn được con lân mà làm sách ấy.
[20] Các triết gia thời Chiến Quốc: Mặc Địch, chủ trương thuyết kiêm ái; Dương Chu, chủ trương thuyết vị kỷ.
[21] Tần Thuỷ Hoàng thu đốt sách thiên hạ; Hạng Võ đốt cung A Phòng nhà Tần lửa cháy ròng 3 tháng.
[22] Gia Cát Khổng Minh đời Hán, lúc chưa ra giúp tiên chúa, ở trong am cỏ Nam Dương. Lương Vũ đế sùng đạo Phật, sắc cho thiên hạ xây rất nhiều chùa.
[23] Các triết gia nước Tần xưa chia làm 9 dòng: 1. Nho gia, 2. Đạo gia, 3. Âm dương gia, 4. Pháp gia, 5. Danh gia, 6. Mặc gia, 7. Tạp gia, 8. Tung hoành gia, 9. Nông gia.
[24] Đạo Nho, Lão, Phật.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Đình Chiểu » Hồi 01