18/01/2020 19:35Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Yết Hành nhạc miếu toại túc nhạc tự đề môn lâu
謁衡岳廟遂宿嶽寺題門樓

Tác giả: Hàn Dũ - 韓愈

Thể thơ: Thất ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Trung Đường
Đăng bởi hongha83 vào 05/06/2009 18:35

 

Nguyên tác

五嶽祭秩皆三公,
四方環鎮嵩當中。
火維地荒足妖怪,
天假神柄專其雄。
噴雲泄霧藏半腹,
雖有絕頂誰能窮?
我來正逢秋雨節,
陰氣晦昧無清風。
潛心默禱若有應,
豈非正直能感通?
須臾靜掃眾峰出,
仰見突兀撐青空。
紫蓋連延接天柱,
石廩騰擲堆祝融。
森然魄動下馬拜,
松柏一逕趨靈宮。
紛牆丹柱動光彩,
鬼物圖畫填青紅。
升階傴僂薦脯酒,
欲以菲薄明其衷。
廟內老人識神意,
睢盱偵伺能鞠躬。
手持盃珓導我擲,
云此最吉餘難同。
竄逐蠻荒幸不死,
衣食纔足甘長終。
侯王將相望久絕,
神縱欲福難為功。
夜投佛寺上高閣,
星月掩映雲曈曨。
猿鳴鐘動不知曙,
杲杲寒日生於東。

Phiên âm

Ngũ Nhạc tế dật giai tam công,
Tứ phương hoàn trấn Tung đương trung.
Hoả Duy[1] địa hoang túc yêu quái,
Thiên giả thần bính chuyên kỳ hùng.
Phún vân tiết vụ tàng bán phúc,
Tuy hữu tuyệt đỉnh thuỳ năng cùng?
Ngã lai chính phùng thu vũ tiết,
Âm khí hối muội vô thanh phong.
Tiềm tâm mặc đảo nhược hữu ứng,
Khởi phi chính trực năng cảm thông?
Tu du tĩnh tảo chúng phong xuất,
Ngưỡng kiến đột ngột sanh thanh không.
Tử Cái liên duyên tiếp Thiên Trụ,
Thạch Lẫm đằng trịch đồi Chúc Dung.
Sâm nhiên phách động hạ mã bái,
Tùng bách nhất kính xu Linh Cung.
Phân tường đan trụ động quang thái,
Quỷ vật đồ hoạ điền thanh hồng.
Thăng giai ủ lũ tiến bô tửu,
Dục dĩ phi bạc minh kỳ trung.
Miếu nội lão nhân thức thần ý,
Huy hu trinh tứ năng cúc cung.
Thủ trì bôi giảo[2] đạo ngã trịch,
Vân thử tối cát dư nạn đồng.
Thoán trục Man hoang hạnh bất tử,
Y thực tài túc cam trường chung.
Hầu vương tướng tướng vọng cửu tuyệt,
Thần tung dục phúc nan vi công.
Dạ đầu Phật tự thướng cao các,
Tinh nguyệt yểm ánh vân đồng lung.
Viên minh chung động bất tri thự,
Cảo cảo hàn nhật sinh ư đông.

Dịch nghĩa

Chư thần ở Ngũ nhạc đều được cúng tế ngang với phẩm trật tam công,
Bốn núi trấn bốn phương núi Tung ở giữa.
Hoả Duy là núi phương nam hoang dã có nhiều yêu quái,
Trời cho thần núi thêm quyền phép để đối trị.
Phun mây nhả sương mù ngang sườn núi,
Tuy có đỉnh cao mà mấy ai lên được.
Ta tới núi đúng vào mùa mưa thu,
Khí núi mờ mịt không một cơn gió mát.
Chú tâm thầm khấn mong có đáp ứng,
Há không có niềm tin mà thần cảm thông sao?
Được một lát gió quét từ từ mây tan núi non hiện ra,
Ngửng nhìn lên thấy cao chót vót chọc tới trời xanh.
Đỉnh Tử Cái liền với đỉnh Thiên Trụ,
Đỉnh Thạch Lẫm như muốn chồm sang đỉnh Chúc Dung.
Núi non trùng điệp thấy mà kinh hồn, xuống ngựa vái lạy,
Theo đường mòn bên thông bách tới Linh Cung.
Tường quét vôi, cột sơn son vẻ rực rỡ,
Các bức vẽ ma quỷ, người vật xanh đỏ.
Bước lên thềm cung kính dâng thịt khô và rượu,
Muốn vật mọn này nói lên lòng thành.
Ông lão trong miếu hiểu ý thần,
Giương mắt dò xét rồi đứng khom lưng.
Tay cầm bôi giảo chỉ bảo ta cách gieo quẻ,
Lão xem bôi giảo rồi bảo quẻ tốt lắm không quẻ nào bằng.
Ta bị giáng chức tới xứ Man hoang vu may mà chưa chết trở về,
Đồ ăn cái mặc chỉ vừa đủ để còn sống sót.
Mộng vương hầu khanh tướng đã hết từ lâu,
Thần có ban phước cũng khó có hiệu nghiệm.
Đêm đến, lên gác cao trong chùa Phật ngủ nhờ,
Trăng sao lấp lánh, ráng sớm vừa lên.
Nghe vượn hú chuông ngân mới biết trời đã sáng,
Mặt trời lạnh lẽo lên cao dần nơi phương đông.

Bản dịch (của Bản dịch của Ngô Văn Phú)

Tế Ngũ Nhạc, vào bậc tam công
Bốn phương vây, núi Tung ở trong
Lửa dữ đất hoang, lắm yêu quái
Trời lo kẻ trị để xưng hùng
Phun mây, tạo sương, sườn khuất phủ
Trèo lên tít đỉnh, ai đã từng?
Ta đến, mưa thu đang giữa tiết
Âm khí mờ tối, gió vắng không
Lòng thầm khấn đảo, mong linh ứng
Tin lòng ngay thẳng, thần cảm thông
Chốc lát mù quang, bo ngọn hiện
Đột ngột chiếm lĩnh khoảng trời trong
Tử Cái vươn, tiếp liền Thiên Trụ
Thạch Lẫm lừng lững, kề Chúc Dong
Lòng xiêu phách động, xuống ngựa lạy
Tùng bách dẫn lối vào Linh Cung
Tường phấn, cột son màu vẻ ánh
Nét hoạ kỳ quái lấp xanh hồng
Dưới thềm cong lưng dâng rượu thịt
Vật mọn đem tỏ tấc dạ trung[3]
Ông già giữ miếu biết thần ý
Thăm thú được dẫn thật hết lòng
Tay đưa chén khấn bảo ta ném
Rằng được điều lành, phúc phận thông
Đất Man lẩn trốn, may khỏi chết
Ăn mặc xuềnh xoàng, phận đã cam
Làm vương, làm tướng thôi trông ngóng
Thần chảng phù trì đâu nên công
Đêm nương cửa Phật trèo lên gác
Trăng sao khuất lấp mây ló chồng
Vượn kêu, chuông gióng, trời sắp sáng
Hanh hao se lạnh mặt trời hừng
Hàn Dũ viết bài này khoảng năm 820. Khi đó, ông đang trên đường trở về kinh đô sau gần hai năm bị biếm trích đi làm thứ sử ở Triều châu rồi Viên châu.

Nguồn: 300 bài thơ Đường, NXB Văn học, 2008
[1] Tên khác của Hành nhạc.
[2] Dụng cụ để bói quẻ.
[3] Bản dịch thiếu câu, tạm bổ sung.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Hàn Dũ » Yết Hành nhạc miếu toại túc nhạc tự đề môn lâu