03/07/2022 15:29Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Đại Lịch tam niên xuân Bạch Đế thành phóng thuyền xuất Cù Đường giáp, cửu cư Quỳ Phủ tương thích Giang Lăng phiêu bạc, hữu thi phàm tứ thập vận
大歷三年春白帝城放船出瞿唐峽久居夔府將適江陵漂泊有詩凡四十韻

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 11/03/2014 21:38

 

Nguyên tác

老向巴人裏,
今辭楚塞隅。
入舟翻不樂,
解纜獨長籲。
窄轉深啼狖,
虛隨亂浴鳧。
石苔淩幾杖,
空翠撲肌膚。
疊壁排霜劍,
奔泉濺水珠。
杳冥藤上下,
濃澹樹榮枯。
神女峰娟妙,
昭君宅有無。
曲留明怨惜,
夢盡失歡娛。
擺闔盤渦沸,
欹斜激浪輸。
風雷纏地脈,
冰雪耀天衢。
鹿角真走險,
狼頭如跋胡。
惡灘甯變色,
高臥負微軀。
書史全傾撓,
裝囊半壓濡。
生涯臨臬兀,
死地脫斯須。
不有平川決,
焉知眾壑趨。
乾坤霾漲海,
雨露洗春蕪。
鷗鳥牽絲颺,
驪龍濯錦紆。
落霞沉綠綺,
殘月壞金樞。
泥筍苞初荻,
沙茸出小蒲。
雁兒爭水馬,
燕子逐檣烏。
絕島容煙霧,
環洲納曉晡。
前聞辨陶牧,
轉眄拂宜都。
縣郭南畿好,
津亭北望孤。
勞心依憩息,
朗詠劃昭蘇。
意遣樂還笑,
衰迷賢與愚。
飄蕭將素發,
汩沒聽洪爐。
丘壑曾忘返,
文章敢自誣。
此生遭聖代,
誰分哭窮途。
臥疾淹為客,
蒙恩早廁儒。
廷爭酬造化,
樸直乞江湖。
灩澦險相迫,
滄浪深可逾。
浮名尋已已,
懶計卻區區。
喜近天皇寺,
先披古畫圖。
應經帝子渚,
同泣舜蒼梧。
朝士兼戎服,
君王按湛盧。
旄頭初俶擾,
鶉首麗泥塗。
甲卒身雖貴,
書生道固殊。
出塵皆野鶴,
曆塊匪轅駒。
伊呂終難降,
韓彭不易呼。
五雲高太甲,
六月曠摶扶。
回首黎元病,
爭權將帥誅。
山林托疲苶,
未必免崎嶇。

Phiên âm

Lão hướng Ba[1] nhân lý,
Kim từ Sở tái[2] ngung.
Nhập chu phiên bất lạc,
Giải lãm độc trường dụ.
Trách chuyển thâm đề dứu,
Hư tuỳ loạn dục phù.
Thạch đài lăng kỷ trượng,
Không thuý phác cơ phu.
Điệp bích bài sương kiếm,
Bôn tuyền tiễn thuỷ châu.
Diểu minh đằng thượng hạ,
Nùng đạm thụ vinh khô.
Thần Nữ[3] phong quyên diệu,
Chiêu Quân[4] trạch hữu vô.
Khúc lưu minh oán tích,
Mộng tận thất hoan ngu.
Bài hạp bàn qua phí,
Y tà kích lãng thâu.
Phong lôi triền địa mạch,
Băng tuyết diệu thiên cù.
Lộc Giác chân tẩu hiểm,
Lang Đầu như bạt hồ.
Ác than nịnh biến sắc,
Cao ngoạ phụ vi khu.
Thư sử toàn khuynh nạo,
Trang nang bán áp nhu.
Sinh nhai lâm nghiệt ngột,
Tử địa thoát tư tu.
Bất hữu bình xuyên quyết,
Yên tri chúng hác xu.
Càn khôn mai trướng hải,
Vũ lộ tẩy xuân vu.
Âu điểu khiên ty dương,
Ly long trạc cẩm hu.
Lạc hà trầm lục ỷ,
Tàn nguyệt hoài kim xu.
Nê duẩn bao sơ địch,
Sa nhung xuất tiểu bồ.
Nhạn nhi tranh thuỷ mã,
Yến tử trục tường ô.
Tuyệt đảo dung yên vụ,
Hoàn châu nạp hiểu bô.
Tiền văn biện Đào Mục[5],
Chuyển miện phất Nghi Đô[6].
Huyện quách nam kỳ hảo,
Tân đình bắc vọng cô.
Lao tâm y khế tức,
Lãng vịnh hoạch chiêu tô.
Ý khiển lạc hoàn tiếu,
Suy mê hiền dữ ngu.
Phiêu tiêu tương tố phát,
Mịch một thính hồng lô.
Khâu hác tằng vong phản,
Văn chương cảm tự vu.
Thử sinh tao thánh đại,
Thuỳ phân khốc cùng đồ.
Ngoạ tật yêm vi khách,
Mông ân tảo trắc nho.
Đình tranh thù tạo hoá,
Phác trực khất giang hồ.
Diễm Dự hiểm tương bách,
Thương Lang thâm khả du.
Phù danh tầm dĩ dĩ,
Lãn kế khước khu khu.
Hỉ cận Thiên Hoàng[7] tự,
Tiên phi cổ hoạ đồ.
Ưng kinh Đế Tử[8] chử,
Đồng khấp Thuấn Thương Ngô[9].
Triều sĩ kiêm nhung phục,
Quân vương án trạm lô.
Mao đầu sơ thục nhiễu,
Thuần thủ lệ nê đồ.
Giáp tốt thân tuy quý,
Thư sinh đạo cố thù.
Xuất trần giai dã hạc,
Lịch khối phỉ viên câu.
Y Lã[10] chung nan giáng,
Hàn Bành[11] bất dị hô.
Ngũ vân cao Thái Giáp,
Lục nguyệt khoáng đoàn phù.
Hồi thủ lê nguyên bệnh,
Tranh quyền tương soái tru.
Sơn lâm thác bì niết,
Vị tất miễn khi khu.

Dịch nghĩa

Loạn lạc đã đến đất Ba,
Nay từ giã góc biên ải đất Sở này.
Xuống thuyền mà lòng không vui,
Tháo dây cột thuyền mà cứ than thở dài.
Khỉ hú trong rừng sâu âm chuyền ra nho nhỏ,
Le le rỉa lông lộn xộn nơi bờ vắng.
Rêu bám trên đá cao vài gậy,
Màu xanh như chạm vào thịt da.
Vách đá cao trùng điệp như những mũi kiếm ẩn trong sương,
Nước suối chảy mạnh bắn ra những hạt nước đẹp như châu báu.
Các loại cây dây leo quấn quít trên cao dưới thấp làm u ám cả bầu trời,
Cây toả hương nhiều ít tuỳ theo còn tươi hay đang khô héo.
Ngọn núi của thần nữ làm ra mây mưa trú ngụ đẹp huyền ảo,
Chẳng hay nhà của Chiêu Quân còn hay sụp đổ rồi.
Bài ca nỗi oán hận bị vua Hán gả cho rợ Hồ của bà làm ta thương cảm,
Kể lể về mộng đã tan, những ngày vui ở cung Hán cũng đã mất.
Nước xoáy tràn lên rút xuống tảng đá bằng,
Phải nương theo những đợt sóng xiên và mạnh mà đưa thuyền tiến.
Mưa gió vây bọc mạch đất,
Băng tuyết làm sáng đường trời.
Thác Lộc Giác đã thoát hiểm,
Chẳng lẽ ghềnh Lang Đầu không qua nổi sao!
Ngán vượt thác ghềnh đành là tái cả mặt,
Nhưng tấm thân nhỏ bé này đã gánh vác được hết.
Sách kinh sử đều nghiêng, cong,
Các túi đựng quần áo bị đè ép và ướt phân nửa.
Cuộc đời bỗng gặp hiểm nguy cao nhất,
Thoát chết trong tích tắc.
Đã quyết định vượt sông không bình yên vì phải qua hai kẽm,
Nên biết trước phải qua những nơi nước chảy xiết này.
Nay đã qua khỏi các kẽm trời đất mịt mù trên mặt sông nước dâng cao như biển,
Mưa và móc làm cỏ xuân tươi tốt.
Chim âu ngậm tơ bay đi làm tổ,
Rồng ly gội râu gấm.
Ráng chiều lặn chân trời xanh như lụa,
Trăng tàn làm hại cây khu vàng không ai còn thấy.
Măng mọc trong bùn khoẻ hơn lau sậy mới lú,
Cỏ bồ ra lá mới trên bãi sông.
Nhạn nhỏ con tranh giành với ngựa nước,
Chim én bay theo cột buồm màu đen.
Đảo đẹp có sương khói bao phủ,
Bãi sông cong vòng có nắng chiếu sớm chiều.
Mới nghe bàn về làng Đào Mục,
Chớp mắt đã tới Nghi Đô.
Phía nam huyện thấy tốt tươi,
Quán dịch tại bến đò phía bắc thấy vắng vẻ.
Biết bao ngày lo lắng nay mới được nghỉ ngơi,
Ngâm lớn bài vịnh kể rõ niềm vui chết đi sống lại.
Ý vui làm ta cười trở lại,
Nhưng đang suy yếu nên lời thơ không biết hay dở thế nào.
Nỗi buồn vì cuộc sống trôi nổi làm tóc thêm bạc trắng,
Còn nhiều lận đận mặc cho lò đời nung nấu.
Những núi non hang hốc mô tả đã từng đi qua,
Văn chương đâu dám nói dối.
Kiếp này sinh vào thời đại vua anh minh,
Mà thân phận ai đó phải than khóc vì cùng đường.
Bệnh tật kéo dài trên đất khách,
May mà sớm được kề bên các nhà Nho.
Tranh luận trước triều đình cũng chỉ vì muốn giúp vua,
Nhưng vì tính vốn thẳng thắn nên đành cam chịu lưu lạc sông hồ.
Ghềnh Diễm Dự tuy nguy hiểm nhưng cũng vượt qua được,
Sông Thương Lang sâu nhiều sóng cũng qua luôn.
Danh hão đã tìm nhiều lần rồi,
Lười tính toán nên thân phận nhỏ mọn.
Tới Giang Lăng rồi vui mừng vì thấy chùa Thiên Hoàng gần bên,
Việc đầu tiên là ghé thăm để được mở xem bức tranh rất xưa.
Sau đó cũng muốn qua bãi sông Đế Tử,
Để cùng linh hồn hai bà nhìn về Thương Ngô mà khóc nhớ vua Thuấn.
Lúc này trong triều các quan văn cũng mặc áo giáp,
Vua đeo kiếm Trạm lô bên mình.
Cờ mao của quân phản nghịch vừa phất lên,
Quân triều đình đã xuất hiện đẹp trên đường bùn lầy dẹp yên ngay.
Thân mang áo giáp rốt cuộc là quý,
Song giới thư sinh tất nhiên cũng có đạo lý khác biệt.
Khi lìa cõi trần thế đều thành hạc đồng quê,
Nhưng giới thanh lịch khác bọn ngựa xe.
Văn thần như Y Doãn, Lã Vọng không thu phục được,
Thì khó mà kêu gọi được võ tướng như Hàn Tín, Bành Việt.
Xe năm màu ngồi chỗ cao nhất,
Sáu tháng giúp vua đánh trận nơi sa trường.
Dân đen đi phu, đi lính trở về mang bệnh,
Tướng suý tranh quyền giết lẫn nhau.
Vào rừng núi tránh lao dịch mỏi mệt,
Chưa chắc đường núi không gập ghềnh.

Bản dịch của Nhượng Tống

Tuổi già ở với dân Mường
Giã từ ải Sở tìm đường xa xuôi
Xuống thuyền, lòng thấy bồi hồi
Nhổ neo, cất tiếng thở dài bâng khuâng
Vượn ngâm, nghe vẳng bên rừng
Đàn le lặn lội trông chừng mặt sông
Thịt da rọi ánh xanh lồng
Ghế kê, gậy tựa, trập trùng bụi rêu
Suối xô, ngọc nước tung theo
Lô nhô vách đá cắm đều gươm sương
Dây rừng chằng chịt dọc ngang
Cây rừng thưa nhạt đám vàng, đám xanh
Gái thần núi đứng xinh xinh
Chiêu Quân xóm cũ thực tình còn không?
Khúc xưa để lại hận lòng
Mộng xưa tìm thú mơ mòng nơi nao?
Nào khi nước xoáy, sóng cao
Mái chèo nghiêng ngả, con sào bẻ bai
Sấm rung mặt đất rã rời
Băng soi, tuyết rọi, đường đời long lanh
Quản bao hiểm trở lênh đênh
Cheo leo Đầu Sói, gập ghềnh Sừng Nai
Thân hèn thà chịu nằm dài
Xuống ghềnh, lên thác rụng rời bao phen
Cơn nguy chưa dễ giữ gìn
Bịch bồ ướt đẫm, sách đèn lung tung
Sống trong giây phút hãi hùng
Chết ta vốn đã cầm lòng mười mươi
Các khe chảy gấp tuyệt vời
Nhìn dòng sông phẳng ta thời mới hay
Mưa xuân tắm gội cỏ cây
Cõi đời, một lớp sương dày mênh mông
Tơ bay, kìa cánh chim mòng
Gấm phơi, kìa lớp vảy rồng thưa, mau
Ráng chiều tìm tấm lụa màu
Trăng tàn, ai bẹp chiếc âu bằng vàng?
Đội bùn mầm sậy đâm ngang
Nhú qua lớp cát, lau đang nảy đều
Qua buồm đàn én lượt theo
Ngựa sông, bầy nhạn dập dìu bắt tranh
Khói, mây đảo nhỏ xây thành
Ác lên, thỏ lặn chỉ quanh hai bờ
Nghi Đô thoáng mắt bấy giờ
Đào Thanh mới rõ đã vừa đi qua
Huyện nam thành quách đầy hoa
Trông sang bến bắc cửa nhà lơ thơ
Tiếng ngâm vòng vọng xa đưa
Nhọc lòng mới được bây giờ nghỉ ngơi
Hả hê nói nói, cười cười
Tuổi già quen cả ở đời dở, hay
Bơ phờ tóc bạc ngang bay
Lấp vùi nung nấu mặc thây lò cừ
Suối rừng đành kiếp sống thừa
Văn chương dám tự dối lừa mình đâu
Thánh minh vua ngự trên đầu
Ai ngờ ta phải than câu cùng đường
Ốm đau lỡ bước tha hương
Đội ơn sớm dự vào làng văn nho
Can ngăn mong trả nghĩa to
Thẳng ngay cam phận giang hồ nổi trôi
Thương Lang, Diễm Dự ngược xuôi
Ngôi quan bỏ đứt, kế lười tính quanh
Chùa Thiên Hoàng đã bên mình
Giờ xem nét chữ bức tranh đời nào
Trông chừng bến Chúa sắp vào
Nhìn lăng vua Thuấn lệ trào chứa chan
Chống gươm vua chửa được nhàn
Mặc đồ nhung phục, trăm quan bận mình
Giặc ngoài quấy rối kinh thành
Bùn than thương nỗi sinh linh bấy chầy
Làm anh mặc giáp sang thay
Nhưng quen cầm bút mình đây khác loài
Hạc đồng bay mới tung trời
"Ngựa xe" đâu dễ có tài xông pha
Quà văn Y Lã ai là?
Hàn, Bành tướng võ dễ mà gọi đâu
Năm mây Thái Giáp treo cao
Cách bằng sáu tháng khát khao gió mùa
Dân đen nhìn lại khốn to
Tranh quyền lũ tướng chết cho đáng đời
Suối rừng tìm chốn nghỉ ngơi
Còn chưa chắc khỏi lạc loài long đong
Đại Lịch là niên hiệu của vua Đường Đức Tông từ năm 766 tới năm 779. Đại Lịch tam niên tức năm 768. Thành Bạch Đế do Công Tôn Thuật xây và xưng đế trong thời kỳ Vương Mãng cướp ngôi nhà Tây Hán, vị trí nay trong huyện Phụng Tiết, tỉnh Tứ Xuyên. Kẽm Cù Đường trên sông Trường Giang, trong địa phận huyện Phụng Tiết. Quỳ Phủ bao gồm huyện Phụng Tiết, nay trong tỉnh Tứ Xuyên. Huyện Giang Lăng nay trong tỉnh Hồ Bắc. Từ Quỳ Phủ đi Giang Lăng bằng đường sông Trường Giang, tác giả sẽ phải vượt qua hai cái kẽm nữa, cũng hiểm nguy như khi vượt kẽm Cù Đường được miêu tả trong bài này.

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
[1] Tên nước thời cổ, nay trong huyện Tam Thai, tỉnh Tứ Xuyên.
[2] Là biên giới nước Sở cũ, trong bài chỉ Quỳ Phủ.
[3] Tức nữ thần làm ra mây và mưa. Bài Cao Đường phú của Tống Ngọc người nước Sở thời Chiến Quốc nói thần nữ ngụ trong dãy núi Vu nay nằm giữa tỉnh Tứ Xuyên và tỉnh Hồ bắc, nơi Đỗ Phủ đang đi qua.
[4] Tên tự của Vương Tường, người đời Hán, một trang sắc nước hương trời, quê quán tại xã Ti Quy, huyện Nam Quận, phủ Quỳ Châu, nơi Đỗ Phủ đang ra khỏi.
[5] Tại phía tây Giang Lăng, Hồ Bắc còn lại ngôi mộ của Đào Chu Công, Theo Sử ký, Phạm Lãi 范蠡 giúp Việt vương Câu Tiễn 勾践 trả thù được nước Ngô. Sau khi thành công, ông cáo lui về vùng Giang Lăng, chu du vùng Ngũ Hồ với tên mới là Đào Chu Công 陶朱公.
[6] Tên thành phố ở bờ phía nam Trường Giang, trong tỉnh Hồ Bắc. Thời Đông Hán, Lưu Bị đổi quận Lâm Giang thành Nghi Đô. Theo cách gọi tên, lấy hai chữ đầu và cuối của “nghi vu kiến đô” (xứng để lập đô) và giao cho Trương Phi 張飛 làm Nghi Đô thái thú.
[7] Tên chùa, trong đó cỏ lẽ thờ vua Nghiêu.
[8] Tên bãi sông, có lẽ thời thượng cổ hai người con gái của vua Nghiêu sống tại đây. Về sau hai bà này đều được gả cho vua Thuấn.
[9] Tên núi, nay trong huyện Ninh Viễn, tỉnh Hồ Nam. Thời thuợng cổ vua Thuấn đi tuần thú phương nam thọ bệnh chết và được chôn tại đây.
[10] Y Doãn giúp nhà Thương và Lã Vọng giúp nhà Chu dựng đế nghiệp.
[11] Hàn Tín và Bành Việt, hai người giúp nhà Hán dựng đế nghiệp.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Đại Lịch tam niên xuân Bạch Đế thành phóng thuyền xuất Cù Đường giáp, cửu cư Quỳ Phủ tương thích Giang Lăng phiêu bạc, hữu thi phàm tứ thập vận