20/10/2021 13:40Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Điền gia tự thuật
田家自述

Tác giả: Nguyễn Khuyến - 阮勸

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Cận đại
Đăng bởi tôn tiền tử vào 05/07/2017 02:49

 

Nguyên tác

上皇崩乃老,
迄今歷五考。
閒居恥素餐,
而食亦求飽。
所以田爾田,
惟是寶吾寶。
深耕以起土,
易耨以除草。
糞之澤如膏,
芸之淨如掃。
晝夜不遑休,
心力無遺巧。
猶慮天雨淋,
猶慮河水早。
發苞畏風逆,
立苗恐旱槁。
幸而四時調,
方望新穀好。
安知新穀好,
又爲碩鼠咬。
勉哉盡當爲!
饑寒不可保。

Phiên âm

Thượng hoàng băng[1] nãi lão,
Hất kim lịch ngũ khảo[2].
Nhàn cư sỉ tố xan,
Nhi thực diệc cầu bão.
Sở dĩ điền nhĩ điền,
Duy thị bảo ngô bảo.
Thâm canh dĩ khởi thổ,
Dị nậu dĩ trừ thảo.
Phấn chi trạch như cao,
Vân chi tịnh như tảo.
Trú dạ bất hoàng hưu,
Tâm lực vô di xảo.
Do lự thiên vũ lâm,
Do lự hà thuỷ tảo.
Phát bao uý phong nghịch,
Lập miêu khủng hạn cảo.
Hạnh nhi tứ thời điều,
Phương vọng tân cốc hảo.
An tri tân cốc hảo,
Hựu vị thạc thử giảo.
Miễn tai tận đương vi!
Cơ hàn bất khả bảo.

Dịch nghĩa

Vua cha băng hà thì ta cáo lão,
Tới nay đã trải năm lần xét công.
Ở rỗi thì xấu hổ về nỗi ngồi ăn không,
Mà ăn cũng cần được no bụng.
Cho nên ngươi cày ruộng của nhà,
Chỉ là báu cái báu vật của mình.
Cày sâu để xới đất,
Bừa nhẹ để trừ cỏ.
Bón phân cho đất phì nhiêu màu mỡ,
Làm cỏ cho đất sạch như quét.
Ngày đêm không kịp nghỉ ngơi,
Tâm lực khôn khéo bao nhiêu dốc ra hết.
Còn lo nỗi trời mưa dầm,
Còn lo nỗi nước sông lên sớm.
Lúa trổ đòng sợ gặp gió trái,
Khi đâm bông sợ bị nắng khô.
May mà được tiết trời điều hoà,
Mới mong lúa mới được tốt.
Nào hay lúa mới tốt,
Lại bị nạn chuột cắn.
Ôi, cố gắng làm hết phận sự mình,
Vẫn khó mà giữ được khỏi đói rét.

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Vua cha mất, ta về,
Đã mười lăm năm trót.
Thẹn ở nể ăn không,
Nhưng cũng cần no ruột.
Nên ruộng ta ta cày,
Mà của ta ta xót.
Cày sâu đất mới tơi,
Bừa kỹ, cỏ không sót.
Bón vào đất thêm màu,
Cào rồi, sạch như chuốt.
Đêm ngày không nghỉ ngơi,
Tâm hao lực cũng sút.
Còn sợ trời mưa dầm,
Còn ghê sông nước lụt.
Trổ đòng ngại gió lay,
Đứng bông e nắng đốt.
Quanh năm may thuận thời,
Mới mong mùa lúa tốt.
Nào ngờ lúa vừa tốt,
Lại mắc ngay nạn chuột.
Việc làm nên gắng lên,
Đói rét chưa hòng thoát!
Rút từ Quế Sơn thi tập (A.469).

Nguồn:
1. Nguyễn Huệ Chi, Thi hào Nguyễn Khuyến: đời và thơ, NXB Giáo dục, 1994
2. Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn nghệ, 2005
[1] Nhắc việc vua Kiến Phúc mất (31-7-1884), cũng năm ấy tác giả về hưu.
[2] Thiên Thuấn điển trong Kinh thư nói: “Tam tải khảo tích, tam khải truất trắc u minh – Chú: Tam khảo cửu tải dã” (Ba năm một lần xét công bề tôi, ba lần xét, thăng chức người tốt, giáng chức người xấu). Đây nói năm lần xét công, ý nói mười lăm năm.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Khuyến » Điền gia tự thuật