07/12/2021 16:28Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tẩy binh mã
洗兵馬

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Thất ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 27/10/2005 18:15

 

Nguyên tác

中興諸將收山東,
捷書夜報清晝同。
河廣傳聞一葦過,
胡危命在破竹中。
只殘鄴城不日得,
獨任朔方無限功。
京師皆騎汗血馬,
回紇喂肉葡萄宮。
已喜皇威清海岱,
常思仙仗過崆峒。
三年笛里關山月,
萬國兵前草木風。
成王功大心轉小,
郭相謀深古來少。
司待清鑒懸明鏡,
尚書氣與秋天杳。
二三豪俊為時出,
整頓乾坤濟時了。
東走無復憶鱸魚,
南飛覺有安巢鳥。
青春復隨冠冕入,
紫禁正耐煙花繞。
鶴禁通宵風輦備,
雞鳴問寢龍樓曉。
攀龍附風勢莫當,
天下盡化為侯王。
汝等豈知蒙帝力?
時來不得誇身強。
關中既留蕭丞相,
幕下復用張子房。
張公一生江海客,
身長九尺鬚眉蒼。
征起適遇風雲會,
扶顛始知籌策良。
青袍白馬更何有?
後漢今周喜再昌。
寸地尺天皆入貢。
奇祥異端爭來送:
不知何國致白環,
復道諸山得銀瓮。
隱士休歌紫芝曲,
詞人解撰河清頌。
田家望望惜雨乾,
布谷處處催春種。
淇上健兒歸幕懶,
城南思婦愁多夢。
安得壯士挽天河,
淨洗甲兵長不用!

Phiên âm

Trung hưng chư tướng thu Sơn Đông,
Tiệp thư dạ báo thanh trú đồng.
Hà Quảng truyền văn nhất vi quá,
Hồ nguy mệnh tại phá trúc trung.
Chỉ tàn Nghiệp thành bất nhật đắc,
Độc nhiệm sóc phương vô hạn công.
Kinh sư giai kỵ hãn huyết mã,
Hồi Ngột ổi nhục Bồ Đào cung.
Dĩ hỉ hoàng y thanh Đạt Hải,
Thường tư tiên trượng quá Không Đồng.
Tam niên địch lý “Quan san nguyệt”,
Vạn quốc binh tiền thảo mộc phong.
Thành Vương công đại tâm chuyển tiểu,
Quách tướng[1] mưu thâm cổ lai thiểu.
Tư đồ thanh giám huyền minh kính,
Thượng thư khí dữ thu thiên diễu?
Nhị tam hào tuấn vị thì xuất,
Chỉnh đốn càn khôn tế thì liễu.
Đông tẩu vô phục ức lô ngư,
Nam phi giác hữu an sao điểu.
Thanh xuân phục tuỳ quan miên nhập,
Tử cấm chính nại yên hoa nhiễu.
Hạc giá thông tiêu phượng liễn bị,
Kê minh vấn tẩm long lâu hiểu.
Phan phong phụ phượng thế mạc đương,
Thiên hạ tận hoá vi hầu vương.
Nhữ đẳng khởi tri mông đế lực,
Thì lai bất dắc khoa thân cường.
Quan Trung ký lưu tiêu thừa tướng,
Mạc hạ phục dụng Trương Tử Phòng.
Trương công nhất sinh giang hải khách,
Thân trường cử xích, tu mi thương.
Trưng khởi thích ngộ phong vân hội,
Phù điên thuỷ tri trù sách lương.
Thanh bào bạch mã cánh hà hữu,
Hậu Hán kim Chu hỉ tái xương.
Thốn địa xích thiên giai nhập cống,
Ký tường dị thuỵ tranh lai tống.
Bất tri hà quốc trí bạch hoàn,
Phục đạo chư sơn đắc ngân úng.
Ẩn sĩ hưu ca “Tử chi[2]” khúc,
Từ nhân giải soạn “Hà thanh[3]” tụng.
Điền gia vọng vạng tích vũ can,
Bố cốc xứ xứ thôi xuân chủng.
Kỳ thượng kiện nhi quy mạc lãn,
Thành nam tư phụ sầu đa mộng.
An đắc tráng sĩ vãn thiên hà,
Tĩnh tẩy giáp binh trường bất dụng.

Dịch nghĩa

Các tướng trung hưng thu lại Sơn Đông,
Tin thắng trận báo về suốt ngày đêm.
Sông rộng, nghe nói thuyên nan cũng qua được?
Vận mệnh giặc hồ mong manh như tre bị chẻ.
Còn thành Nghiệp, chưa đầy một ngày sẽ hạ xong,
Viên tướng độc nhiệm miền bắc có công rất lớn.
Ở kinh đô toàn người cưỡi giống ngựa hãn huyết,
Quân Hồi Ngột no thịt ở cung Bồ Đào.
Đã mừng vì uy danh vua dẹp yên vùng Hải Đại,
Thường nhớ khi xe ngựa vua qua núi Không Đồng.
Ba năm nghe sáo thổi bài “Quan san nguyệt” (Trăng quan ải),
Muôn nước trước đoàn quân như cỏ bị gió bạt.
Thành vương công lớn mà lòng cẩn thận, kiêm tốn,
Quách tướng mưu sâu xưa nay ít có.
Tư đồ sáng suốt như tấm gương treo,
Thượng thư khí phách cao xa như trời thu.
Vài ba kẻ tài giỏi vì thời thế mà ra,
Sắp đặt trời đất làm song việc cứu đời.
Người chạy đông không còn phải nhứ cá vược,
Kẻ xuôi nam cảm thấy như tìm về tổ ấm.
Vẻ thanh xuân lại theo các quan vào chầu,
Cung điện tôn nghiêm có hoa khói vây phủ.
Xe hạc đi lại suốt đêm, xe phượng trực chờ sẵn,
Gà gáy, sớm vào lầu rồng vấn an nhà vua.
Quyền thế bọn vin rồng náu phượng ai bì kịp,
Thiên hạ như trở thành toàn bậc hầu vương.
Các ngươi nên biết đó là nhờ uy lực của vua,
Chứ kẻ gặp thời may chớ khoe tài cậy sức.
Quan Trung đã để Tiêu Hà lên làm thừa tướng,
Dưới trướng lại dùng Trương Lương.
Ông Trương vốn là người của sông bể,
Mình cao chín thước râu tóc trắng phau.
Được vua vời, gặp hội gió mây,
Chống thế nguy, mới biết mưu giỏi.
Giặc áo xanh ngựa trắng không cò nữa,
Sau Hán nay chu lại mừng được thịnh trị.
Dù tấc đất thước trời cũng đều vào cống,
Điềm lành vật lạ đua nhau dâng lên,
Không rõ nước nào hiến vòng ngọc trắng.
Lại nghe nói trong núi bắt được bình bạc,
Kẻ ẩn dật không hát bài “Tử chi ca” nữa.
Văn nhân cho rằng phải làm bài “Từ thanh tụng”,
Nhà nông mong cho mưa nắng thuận hoà.
Khắp nơi, chim bố cốc giục gieo mạ xuân,
Lính sông Kỳ hãy về đi đừng chần chờ,
Thiếu phụ thành Nam nhớ chồng, buồn mơ nhiều...
Sao có tráng sĩ kéo sông Ngân xuống,
Rửa sạch giáo mác, mãi mãi không dùng đến nữa.

Bản dịch của Nhượng Tống

Trung hưng các tướng lấy Sơn Đông,
Thắng trận tin đưa sớm, tối trùng,
Đem thế chẻ tre đè mạng giặc,
Mượn tầu lá sậy vượt dòng sông.
Sóc phương lập được bao công cả,
Nghiệp quận nay mai sẽ hạ xong,
Hồi Ngột đưa thêm quân trợ thuận,
Kinh sư đều cưỡi ngựa truy phong.
Đã mừng oai chúa vang Tề, Lỗ,
Còn nhớ xe loan tới Không Đồng.
Sáo thổi ba năm quan quan ải lạnh.
Quân đồn muôn nước gió cây rung!
Thành Vương công lớn long càng nhỏ,
Quách tướng mưu sâu đời hiếm có.
Thượng thư khí khái nhất trời thu,
Tư đồ sang suốt treo gương tỏ.
Hào kiệt vài tay ra giúp đời,
Kiền khôn sắp đặt đâu ra đó.
Sang đông khỏi nhớ cá quê nhà,
Về nam đã thấy chim yên tổ.
Áo xiêm thấm đượm ánh xuân xanh,
Hoa khói điểm tô cung cấm đỏ.
Xe hạc đêm chờ kiệu phượng về,
Canh gà sớm viếng lầu rồng ngủ.
Víu phượng, vin rồng khéo bảo nhau,
Trong đời vô số kẻ sang giàu!
Gặp thời xin chớ khoe mình giỏi,
Nên nhớ ơn vua nặng đến đâu!
Trong ải đã dùng Tiêu Tướng quốc,
Dưới màn lại sẵn Trương Lưu hầu,
Ông Trương người của miền sông biển,
Chín thước mình cao, bạc tóc râu!
Gặp hội gió mây ra giúp nước,
Nước nguy mới thấy rõ mưa cao.
Áo xanh, ngựa bạch còn chi nữa,
Đời trị, dân yên lại bắt đầu!
Gang trời, tấc đất đều vào cống,
Triệu lạ, điềm lành nhiều lủng nhủng!
Có nước đem dâng vòng "bạch hoàn",
Trong non lại được chum "ngân úng".
Thi nhân vịnh mãi cảnh sông trong,
Ẩn sĩ thiết gì cỏ tiên rụng.
Đâu đấy nhà nông thấy khát mưa,
Véo von chim nội giục: gieo giống!
Trai tài mặt trận liệu mau về!
Vợ trẻ bên thành đương tiếc mộng.
Muốn kéo dòng Ngân rửa giáo gươm,
Xếp xó từ đây không động dụng!
Bài này được viết năm 758, sau khi nhà Đường lấy lại được kinh đô.

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
[1] Tức Quách Tử Nghi.
[2] Bài hát do nhóm Thương Sơn tứ hạo đặt ra.
[3] Bài ca do Bảo Hi nước Tống đời Nam triều đặt ra, ca ngợi non sông đất nước.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Tẩy binh mã