19/08/2022 09:14Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Nợ tang bồng

Tác giả: Nguyễn Công Trứ - 阮公著

Thể thơ: Ca trù (hát nói); Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi kẻ thích làm thơ vào 12/04/2006 07:41

 

Vũ trụ giai ngô phận sự[1],
Chẳng công danh chi đứng giữa trần hoàn[2]?
Chí tang bồng[3] hẹn với giang san,
Đường trung hiếu, chữ “quân thân” là gánh vác.
Thi rằng:
Đã mang tiếng ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông.
Nợ sách đèn đem nghiên bút giả xong,
Cầu xe ngựa[4]lúc đi về mới tỏ.
Duyên ngư thuỷ, hội long vân[5] còn đó,
Miếng đỉnh chung cho biết mùi đời.
Nhắn trăng nhủ gió đưa người,
Bẻ ngành đan quế[6] cho rồi liền tay.
Trần ai ai có kém ai!
Nguồn:
1. Thơ văn Nguyễn Công Trứ, Trương Chính biên soạn & giới thiệu, NXB Văn học, 1983
2. Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề, Việt Nam ca trù biên khảo, Nhà in Văn Khoa, Sài Gòn, 1962
[1] Chữ Hán: 宇宙皆吾分事. Nghĩa: Những việc trong trời đất đều là phận sự của ta.
[3] Do chữ “tang bồng hồ thỉ” 桑蓬弧矢, là cung làm bằng gỗ dâu và tên làm bằng cỏ bồng. Theo Kinh Lễ, xưa cha mẹ khi sinh con trai, lấy cung gỗ dâu, tên cỏ bồng treo ngoài cửa, ý mong con trai lấy cung tên làm sự nghiệp. Câu này có sách chép là “Mặt tài tình đương độ thiếu niên”.
[2] Cõi đời. Hai câu đầu hàm ý: “Có công danh đứng cùng trời đất, không sự nghiệp nát với cỏ cây”.
[4] Tư Mã Tương Như đời Hán vào Trường An tìm đường công danh, khi qua một cây cầu có đề rằng: “Bất thừa xa mã, bất hoàn quá thử kiều” 不乘車馬不還過此橋 (Nếu không ngồi xe cưỡi ngựa thì không trở về qua cầu này).
[5] Cá gặp nước, rồng gặp mây, ví người gặp hội công danh.
[6] Bẻ cành quế đỏ, chỉ việc đi thi đỗ cao. Tống sử: “Túc nhiếp thanh vân, thủ phan đan quế” 足躡青雲,手攀丹桂 (Chân dẫm mây xanh, tay vin cành quế đỏ). Đời Tống, Trần Nguyên Lão khi xem bảng thấy mình đỗ cao bèn vịnh: “Đào hoa tiên thấu tam tằng lãng, Nguyệt quế cao phan đệ nhất chi” 桃花先透三層浪,月桂高攀第一枝 (Vượt trước ba tầng sóng hoa đào, Vin cao cành quế thứ đầu trên cung trăng).

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Công Trứ » Nợ tang bồng