26/06/2021 01:15Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Ngộ danh Nhiễm phu thê cảm tác
遇名冉夫妻感作

Tác giả: Nguyễn Khuyến - 阮勸

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Cận đại
Đăng bởi Vanachi vào 07/02/2019 01:23

 

Nguyên tác

雲山鴻雁各分方,
逢爾夫妻亦可傷。
白髮滿頭初作婦,
凶年枵腹復還鄉。
且看此日真棋局,
何獨伊人當儡場。
寒雨間前正惆悵,
諸君莫笑獨疏狂。

Phiên âm

Vân sơn hồng nhạn[1] các phân phương,
Phùng nhĩ phu thê diệc khả thương.
Bạch phát mãn đầu sơ tác phụ,
Hung niên hiêu phúc phục hoàn hương.
Thả khan thử nhật chân kỳ cục,
Hà độc y nhân đáng lỗi trường.
Hàn vũ gian tiền chính trù trướng,
Chư quân mạc tiếu độc sơ cuồng.

Dịch nghĩa

Núi mây xa cách chim hồng chim nhạn tan tác khắp các ngả
Nay gặp vợ chồng người thật cũng đáng thương
Tóc bạc đầy đầu rồi mới đi làm đâu
Gặp năm mất mùa bụng đói lại phải về làng
Xem cuộc đời ngày nay thật y như cuộc cờ
Chẳng riêng gì người ấy là trò rối mà thôi
Trời mưa rét đừng trước của bùi ngùi
Các người đùng chê ta là sơ cuồng nhé!

Bản dịch của Đỗ Đình Tuân

Lạc bầy hồng nhạn tha phương
Gặp đôi anh chị xót thương trong lòng
Bạc đầu mới đi lấy chồng
Gặp năm đói kém lại cùng về đây
Cuộc đời như ván cờ vây
Phải đâu con rối người này riêng thôi
Trời mưa rét đứng ngậm ngùi
Các ngươi đừng trách là tôi sơ cuồng
Rút từ Quế Sơn thi tập (A.469).

Anh Nhiễm theo nguyên chú của tác giả thì với ông là cùng họ, vì nhà nghèo lưu lạc phương xa đã mười năm. Năm Bính Hợi mất mùa, chợt thấy anh ta cùng người vợ mới cưới, nhưng đã ngoài 60 tuổi, đến nhà ông xin ăn.

Nguồn: Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn Nghệ, 2005
[1] Hai giống chim thường bay từng đàn, Kinh thi dùng hồng nhạn để nói việc nhân dân phải ly tán trong buổi loạn.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Khuyến » Ngộ danh Nhiễm phu thê cảm tác