13/04/2021 18:25Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Đệ bát cảnh - Thường Mậu quan canh
第八景-常茂觀耕

Tác giả: Thiệu Trị hoàng đế - 紹治皇帝

Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi YensidTim vào 08/11/2020 05:19

 

Nguyên tác

峻峙高樓拂彩霓,
憑欄縱覽滿町畦。
三推勸課輕持耒,
終歲勤劬憫踏犁。
茂樹園中青幕障,
嘉禾埜外綠雲低。
幼知稼穑艱難事,
訓迪慈恩覆燾齊。

Phiên âm

Tuấn trĩ cao lâu phất thải nghê,
Bằng lan túng lãm mãn đinh huề.
Tam thôi[1] khuyến khoá khinh trì lỗi,
Chung tuế cần cù mẫn đạp lê.
Mậu thụ viên trung thanh mạc chướng,
Gia hoà dã ngoại lục vân đê.
Ấu tri giá sắc gian nan sự,
Huấn địch từ ân phúc đảo tề.

Dịch nghĩa

Lầu cao chót vót chạm đến cầu vồng rực rỡ,
Đứng dựa vào lan can phóng mắt nhìn khắp đồng ruộng.
Lễ tam thôi để khuyên răn đừng xem nhẹ việc cày bừa,
Biết xót thương những người suốt năm chăm chỉ việc cày cấy.
Trong vườn, cây tươi như bức màn xanh che ngang,
Ngoài đồng ruộng tốt như đám mây xanh nằm dưới thấp.
Từ nhỏ, ta đã biết việc cấy cày là gian nan,
Ân lành và lời dạy của tiên đế đã bao trùm khắp cả.

Bản dịch của Phan Thuận An, Phạm Đức Thành Dũng, Phan Thanh Hải, Nguyễn Phước Hải Trung

Chót vót lầu cao giữa khoảng không,
Nhìn xa quang cảnh chốn nương đồng.
Ba đường dẫn lối khuyên cày cấu,
Năm tháng thường người trọng việc nông.
Cây cối tốt tươi, xanh dải phủ,
Mùa màng mơn mởn, biếc mây chùng.
Đã từng thuở nhỏ xem cày cấy,
Vẫn vọng ơn sâu khắp núi sông.
Lời dẫn: “Thường Mậu viên: Cận y đế tịch chi thản, mỗi hoài tắc bá chi huấn, xuyết đống lương tráng lệ ư quỳnh lâm vi doanh đại để, tri giá sắc gian nan kỳ nông sự truy Kỷ Ân lâu. Ngư dược diên phi bác đắc càn khôn nhã thú, nhật chinh nguyệt mại phương văn hiếu hữu anh phong. Thị hà dĩ thượng tư hồ? Tại chỉ ư chí thiện dã.” 常茂園:近依帝籍之坦,每懷稷播之訓,掇棟樑壯麗於瓊林為營代邸,知稼穑艱難其農事追紀恩樓,魚躍鳶飛博得乾坤雅趣,日征月邁芳聞孝友英風,是何以尚斯乎,在止於至善也。(Vườn Thường Mậu: Ở lân cận nơi vùng đế tịch, để nhớ ghi lời dạy cày bừa, chọn cột kèo tráng lệ chốn sơn lâm để dựng xây lầu gác, biết cấy cày khó khăn trong nông sự cho dựng Kỷ Ân lâu. Cá lội điều bay rộng hưởng thú đất trời, trắng lên, ác lặn khéo truyền tình hiếu hữu. Biết lấy gì hơn thế nữa? Chỉ dừng ở nơi chí thiện.) Vườn Thường Mậu ở trong kinh thành, có đảo Bồng Hồ, trên đảo có xây lầu Kỷ Ân, ý nói ghi nhớ ơn sâu của tiên đế.

Tục xưa, hằng năm thường cử hành lễ canh tịch rất long trọng, vua đến cày đám ruộng tượng trưng gọi là “đế tịch” để làm gương cho dân. Dưới triều Nguyễn, đế tịch nằm ngay trong kinh thành. Vua Thiệu Trị cho lập vườn Thường Mậu ở gần đó, vì theo ý của vua Minh Mạng, tự thân mỗi hoàng đế phải thấy rõ sự khó nhọc trong việc cày bừa. Vườn Thường Mậu là một trong những vườn thượng uyển nổi tiếng dưới thời các vị vua đầu triều Nguyễn. Theo sách Đại Nam nhất thống chí, vị trí của khu vườn này thuộc địa phận phường Thừa Đức, phía nam Tịch Điền (nay thuộc phường Tây Lộc) trong kinh thành. Vườn được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 21 (1840) với ý định mở một “danh viên” ngay trước khu ruộng Tịch Điền và ân tứ cho hoàng tử Miên Tông (về sau là vua Thiệu Trị) làm nơi nghiên cứu kinh sử. Đến đầu thời Thiệu Trị, vườn được sửa sang lại làm nơi trú tất cho vua khi đến cày ruộng Tịch Điền.

Cũng theo bộ sách trên và một số tư liệu khác, vườn Thường Mậu được xây dựng khá cầu kỳ, có quy mô hoành tráng và hoa lệ. Trong vườn có một hồ lớn gọi là hồ Thanh Minh. Giữa hồ có đảo Bồng Hồ, trên đảo dựng lầu Kỷ Ân (tên cũ là Thừa Ân, đến năm 1841 đổi thành Kỷ Ân), 5 gian, 2 tầng, quay mặt về hướng nam. Trước lầu, ở bên trái có dựng bia đá ghi tên lầu, về phía nam có hiên Tu Trai, thềm hiên sát với mặt hồ. Bờ phía nam và bờ phía bắc đều dựng Linh Tinh môn. Ở phía nam lầu còn có nhà Chỉ Thiện. Ở đây có một hành lang dài từ lầu Kỷ Ân chạy ra phía bên trái và bên phải. Đoạn qua hồ ở bên trái có cầu Quang Phong, bên phải có cầu Tễ Nguyệt. Phía bắc lầu, ở bên trái là gác Thông Minh, bên phải là tạ Trừng Thanh, đều dựng trên mặt nước. Cũng ở phía bắc, trong hồ còn có núi Tam Thọ. Phía nam núi có đình Lục Hợp, phía đông có quán Tứ Đại, phía tây có tháp Giác Viên. Trong vườn còn có một cái giếng mang tên giếng Cam Lộ.

Ngoài bài này, vua còn có 10 bài thơ ngự chế vịnh 10 cảnh trong vườn. Tất cả các bài thơ này đều được thể hiện trên tranh gương đóng khung thếp vàng rồi treo trong các cung điện.

Nguồn: Phan Thuận An, Phạm Đức Thành Dũng, Phan Thanh Hải, Nguyễn Phước Hải Trung, Thần kinh nhị thập cảnh - Thơ vua Thiệu Trị, Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế, NXB Thuận Hoá, 1997
[1] Là lễ thiên tử cày ruộng ở tịch điền. “Thôi” có nghĩa là tiến tới trước. Theo thiên Nguyệt lệnh trong Kinh lễ thì: “Thiên tử tam thôi, tam công ngũ thôi, khanh chư hầu cửu thôi” (Thiên tử cày ba đường, tam công năm đường còn chư hầu và các đại phu thì cày chín đường).

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Thiệu Trị hoàng đế » Đệ bát cảnh - Thường Mậu quan canh