21/10/2019 20:51Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Ký Nhạc Châu Giả tư mã lục trượng, Ba Châu Nghiêm bát sứ quân lưỡng các lão ngũ thập vận
寄岳州賈司馬六丈、巴州嚴八使君兩閣老五十韻

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 29/03/2015 10:14

 

Nguyên tác

衡岳啼猿裏,
巴州鳥道邊。
故人俱不利,
謫宦兩悠然。
開闢乾坤正,
榮枯雨露偏。
長沙才子遠,
釣瀨客星懸。
憶昨趨行殿,
殷憂捧禦筵。
討胡愁李廣,
奉使待張騫。
無複雲台仗,
虛修水戰船。
蒼茫城七十,
流落劍三千。
畫角吹秦晉,
旄頭俯澗瀍。
小儒輕董卓,
有識笑苻堅。
浪作禽填海,
那將血射天。
萬方思助順,
一鼓氣無前。
陰散陳倉北,
晴熏太白巔。
亂麻屍積衛,
破竹勢臨燕。
法駕還雙闕,
王師下八川。
此時沾奉引,
佳氣拂周旋。
貔虎開金甲,
麒麟受玉鞭。
侍臣諳入仗,
廄馬解登仙。
花動朱樓雪,
城凝碧樹煙。
衣冠心慘愴,
故老淚潺湲。
哭廟悲風急,
朝正霽景鮮。
月分梁漢米,
春得水衡錢。
內蕊繁于纈,
宮莎軟勝綿。
恩榮同拜手,
出入最隨肩。
晚著華堂醉,
寒重繡被眠。
轡齊兼秉燭,
書枉滿懷箋。
每覺升元輔,
深期列大賢。
秉鈞方咫尺,
鎩翮再聯翩。
禁掖朋從改,
微班性命全。
青蒲甘受戮,
白髮竟誰憐。
弟子貧原憲,
諸生老伏虔。
師資謙未達,
鄉黨敬何先。
舊好腸堪斷,
新愁眼欲穿。
翠幹危棧竹,
紅膩小湖蓮。
賈筆論孤憤,
嚴詩賦幾篇。
定知深意苦,
莫使眾人傳。
貝錦無停織,
朱絲有斷弦。
浦鷗防碎首,
霜鶻不空拳。
地僻昏炎瘴,
山稠隘石泉。
且將棋度日,
應用酒為年。
典郡終微眇,
治中實棄捐。
安排求傲吏,
比興展歸田。
去去才難得,
蒼蒼理又玄。
古人稱逝矣,
吾道卜終焉。
隴外翻投跡,
漁陽複控弦。
笑為妻子累,
甘與歲時遷。
親故行稀少,
兵戈動接聯。
他鄉饒夢寐,
失侶自屯邅。
多病加淹泊,
長吟阻靜便。
如公盡雄俊,
志在必騰鶱。

Phiên âm

Hành nhạc đề viên lý,
Ba Châu điểu đạo biên.
Cố nhân câu bất lợi,
Trích hoạn lưỡng du nhiên.
Khai tịch càn khôn chính,
Vinh khô vũ lộ thiên.
Trường Sa tài tử viễn,
Điếu lại khách tinh huyền.
Ức tạc xu hành điện,
Ân ưu phủng ngự diên.
Thảo Hồ sầu Lý Quảng[1],
Phụng sứ đãi Trương Khiên[2].
Vô phục vân đài trượng,
Hư tu thuỷ chiến thuyền.
Thương mang thành thất thập,
Lưu lạc kiếm tam thiên.
Hoạ giốc[3] xuy Tần, Tấn[4],
Mao đầu phủ Giản Triền[5].
Tiểu nho khinh Đổng Trác[6],
Hữu thức tiếu Phù Kiên[7].
Lãng tác cầm điền hải[8],
Na tương huyết dịch thiên.
Vạn phương tư trợ huấn,
Nhất cổ khí vô tiền.
Âm tán Trần Thương[9] bắc,
Tinh huân Thái Bạch[10] điên.
Loạn ma thi tích Vệ[11],
Phá trúc thế lâm Yên[12].
Pháp giá hoàn song khuyết[13],
Vương sư há bát xuyên[14].
Thử thì triêm phụng dẫn,
Giai khí phất chu toàn.
Ti hổ khai kim giáp.
Kỳ lân thụ ngọc tiên.
Thị thần am nhập trượng,
Cứu mã giải đăng tiên.
Hoa động chu lâu tuyết,
Thành ngưng bích thụ yên.
Y quan tâm thảm sảng,
Cố lão lệ sàn viên.
Khốc miếu bi phong cấp,
Triều chính tễ cảnh tiên.
Nguyệt phân lương Hán mễ,
Xuân đắc thuỷ hành tiền.
Nội nhị phiền vu hiết
Cung sa nhuyễn thắng miên.
Ân vinh đồng bái thủ,
Xuất nhập tối tuỳ kiên.
Vãn trước hoa đường tuý,
Hàn trùng tú bị miên.
Bí tề kiêm bỉnh chúc,
Thư uổng mãn hoài tiên.
Mỗi giác thăng nguyên phụ,
Thâm kỳ liệt đại hiền.
Bỉnh quân phương chỉ xích,
Sát cách tái liên phiên.
Cấm dịch bằng tòng cải,
Vi ban tính mệnh toàn.
Thanh bồ[15] cam thụ lục,
Bạch phát cánh thuỳ lân.
Đệ tử bần Nguyên Hiến[16],
Chư sinh lão Phục Kiền[17].
Sư tư khiêm vị đạt,
Hương đảng kính hà tiên.
Cựu hảo trường thậm đoạn,
Tân sầu nhãn dục xuyên.
Thuý cán nguy sạn trúc,
Hồng nhị tiểu hồ liên.
Giả bút luận cô phẫn,
Nghiêm thi phú kỷ thiên.
Định tri thâm ý khổ,
Mạc sử chúng nhân truyền.
Bối cẩm vô đình chức,
Chu ti hữu đoạn huyền.
Phố âu phòng toái thủ,
Sương cốt bất không quyền.
Địa tích hôn viêm chướng,
Sơn trù ải thạch tuyền.
Thả tương kì độ nhật,
Ưng dụng tửu vi niên.
Điển quận chung vi diệu,
Trị trung[18] thực khí quyên.
An bài cầu ngạo lại,
Tỉ hứng triển quy điền.
Khứ khứ tài nan đắc,
Thương thương lý hựu huyền.
Cổ nhân xưng thệ hĩ[19],
Ngô đạo bốc chung yên.
Lũng ngoại[20] phiên đầu tích,
Ngư Dương[21] phục kháng huyền.
Tiếu vi thê tử luỵ,
Cam dữ tuế thì thiên.
Thân cố hành hi thiểu,
Binh qua động tiếp liên.
Tha hương nhiêu mộng mị,
Thất lữ tự truân chiên.
Đa bệnh gia yêm bạc,
Trường ngâm trở tĩnh tiên.
Như công tận hùng tuấn,
Chí tại tất đằng hiên.

Dịch nghĩa

Tại Hành Nhạc trong chốn vượn kêu,
Trong khi Ba Châu thì cạnh đường chim bay (núi non).
Cả hai bạn cũ đều không may mắn,
Cả hai đều bị chuyển đi xa như thế.
Đất nước được xây dựng lên rất là ngay thẳng,
Mà sao ơn huệ lại ban ra một cách thiên lệch vậy.
Nơi Trường Sa này không được gần các người tài,
Bên bến câu tên sống lông bông này vất vưởng.
Nhớ xưa theo hàng đi trong điện nhà vua,
Lo lắng đầy đủ để dâng bữa ăn lên vua.
Đi đánh giặc Hồ lo tới Lý Quảng,
Cử người đi sứ phải đợi Trương Khiên.
Không lập lại nghi thức nơi đài mây,
Mà uổng công sửa sang thuyền chiến trên sông.
Bảy mươi thành trì hoang vắng,
Ba ngàn thanh kiếm tiêu tan.
Tiếng tù và có vẽ hình làm tiêu tan Tần, Tấn,
Cờ hiệu của tướng chỉ huy bay đầy nơi sông Giản Triền.
Khinh rẻ Đổng Trác vì ít học,
Cười Phù Kiên có hiểu biết mà khờ.
Bọn giặc cứ làm bừa như chim lấp biển,
Lại đem máu mà vung đến tận trời.
Trong khi phía ta vạn nơi nghĩ đến việc theo giúp,
Một tiếng trống là khí thế vùng lên như trước chưa từng có.
Vẻ âm u tan nơi bắc Trần Thương,
Ấm tạnh trên đỉnh Thái Bạch.
Xác chất đống bừa bãi như rác nơi vùng Vệ,
Thế tấn công vũ bão để chiếm lại vùng Yên.
Xe vua trở về hai cửa khuyết,
Quân nhà kéo xuống vùng tám sông.
Lúc này hồ hởi dẫn đầu đón rước,
Không khí phấn khởi toả ra khắp nơi.
Tướng lĩnh dũng mãnh cởi bỏ áo giáp vàng,
Người xuất sắc được trao roi ngọc.
Các vị quan hầu cận thạo nghi lễ,
Ngựa thoát chuồng để được lên tiên.
Tuyết trên hoa bên lầu son rung động,
Khói trong thành ngưng nơi cây biếc.
Lòng kẻ quan lại thương xót,
Nước mắt bậc già lão lã chã.
Khóc nơi miếu thờ trong lúc lộng gió buồn,
Người đứng đầu phiên chầu vua tươi tỉnh sau cơn khói lửa.
Hàng tháng phát gạo thơm Hán,
Mùa xuân được tiền của nhà nước đúc cho.
Nhị hoa trong đại nội nhiều như kết lại,
Cỏ trong cung mịn hơn tơ.
Ơn hân hoan cùng chắp tay vái nhận,
Ra vào rất sát vai nhau.
Hôm bày rượu uống nơi nhà sang,
Lạnh nhiều đắp mền thêu ngủ.
Dây cương ngay ngắn chẳng kể ngày đêm,
Sách cong mà mỗi tờ đầy tâm tình.
Mỗi lần biết tăng chức lớn,
Là rất trông chờ đưa ra người tài cao.
Vừa mới có chức lớn,
Mà đã rã cánh liên hồi.
Nơi cơ quan trung ương bè bạn thay đổi,
Chức phận nhỏ nhưng tính mệnh toàn vẹn.
Nơi triều đình cam chịu nhục,
Ai thương đến kẻ tóc bạc đâu.
Người học trò nghèo như Nguyên Hiến,
Ông nhà nho già như Phục Kiền.
Thiên tư làm thày vì khiêm nhượng mà không đạt,
Nơi làng nước trọng cái gì trên hết?
Những bạn thân cũ cứ đành chịu đứt ruột,
Cái sầu mới khiến mắt cứ lòi ra.
Cột biếc làm cho dàn tre cao ngất,
Bụi đỏ trong bông sen nơi hồ nhỏ.
Bút ông Giả Chí bàn về nỗi phẫn uất,
Thơ ông Nghiêm Vũ cũng có nói đến điều đó qua một vài bài.
Điều tấm tức đó cứ giữ kín trong lòng,
Không truyền ra cho mọi người hay.
Không hề ngưng dệt loại gấm quý,
Tơ đỏ có vài sợi bị đứt.
Con cò bên bến lo việc vỡ đầu,
Con cắt trong sương có lúc nào ngưng xuất chưởng đâu.
Đất đã chật lại thêm nóng nực tù mù,
Núi lắm cây chẹn dòng nước khe đá.
Bèn dùng việc đánh cờ để cho qua ngày,
Muốn dùng rượu quanh năm.
Cuối cùng là coi việc trong quận,
Chức trị trung thực đã bị bỏ rồi.
Yên phận là một viên lại quèn,
Hứng lên muốn về cày ruộng.
Hãy đi đi thôi, có tài khó mà được dùng,
Cái lý đó thật là mơ hồ huyền ảo.
Người xưa cũng đã từng than "trôi lẹ như thế đó",
Liệu đạo ta đến lúc cùng rồi chăng?
Lại tất tả đem thân ra vùng Lũng Ngoại,
Lại cũng phải giương cung ở chốn Ngư Dương.
Cười vì phải luỵ vợ con,
Nên mặc cho ngày tháng đưa đẩy.
Bà con thân thích ngày một thưa bớt,
Trong khi trận mạc lại cứ luôn luôn phải ra hoài.
Nơi quê người cứ trằn trọc mộng mơ,
Vì lạc đàn mà bị khốn đốn như thế.
Tôi vì lắm bệnh nên chậm rời bến,
Việc ngâm dài ngăn trở cái yên tĩnh.
Như các ông là những bậc oanh liệt,
Nếu chí khí vẫn còn thì vẫn có dịp bay bổng.

Bản dịch (của Bản dịch của Phạm Doanh)

Chốn núi Nam vượn kêu tức tưởi,
Cạnh Ba Châu là lối cheo leo.
Cả hai người cũ gặp eo,
Làm quan mà bị ngặt nghèo vậy sao.
Thuở dựng nước, biết bao chính trực,
Mà ướt khô, mưa móc xẹo xiên,
Trường Sa vắng các bạn hiền,
Bến câu ít khách như miền thưa sao.
Nhớ xưa lúc cùng vào điện ngọc,
Chăm lo cùng chầu chực tiệc vua.
Đánh Hồ, Lý Quảng nào ưa,
Đi sứ cứ phải đợi chờ Trương Khiên.
Nghi thức ở đài Vân không lập,
Chiến thuyền sông cung cấp bằng thừa.
Bảy chục thành bị hoang sơ,
Ba ngàn thanh kiếm hoá ra điêu tàn.
Tiếng ốc thổi tan duyên Tần Tấn,
Cờ hiệu nơi sông Giản-triền đầy.
Đổng Trác ít học khinh thay,
Phù Kiên trí thức sao ngây, đáng cười.
Cứ làm bừa như chim lấp biển,
Đem máu kia mà bắn tới trời.
Quyết trợ giúp, vang khắp nơi,
Một kêu mà cả ngàn lời hò reo.
Bắc Trần Thương khí heo may sạch,
Ấm tạnh, đỉnh Thái Bạch sáng ngời.
Vùng Vệ chất đống xác người,
Xứ Yên dậy đất long trời tiến công.
Xe vua trở về cung điện cũ,
Quân đội ta chiếm cứ tám sông.
Lúc này hoan hỉ dẫn đường,
Không khí hồ hởi khắp vùng toả bay.
Bao tướng giỏi giờ đây cởi giáp,
Roi ngọc kia đem cấp người tài.
Nghi thức hầu cận trông coi,
Ngựa chuồng được cởi để rồi lên tiên.
Hoa tuyết động ngay bên lầu đỏ,
Khói trong thành đọng ở cây xanh.
Các quan lòng những buồn tênh,
Các bô lão lệ long lanh ứa tràn.
Khóc nơi miếu gió buồn thổi tới,
Buổi chầu vua cảnh mới hả hê.
Hàng tháng gạo được chia ra,
Tiền quan thu thuế xuân về đem cho.
Hoa trong nội tựa hồ như dệt,
Cỏ trong cung mà mượt hơn nhung.
Ân huệ bái lậy vẫn cùng,
Ra vào nhất thiết chung lòng sát vai.
Chiều bày rượu nhà ngoài cùng nhắp,
Đêm lạnh nhiều có đắp chăn bông.
Thẳng cương lại có đuốc chong,
Sách cong tờ giấy nỗi lòng bày trên.
Mỗi khi biết thăng lên chức lớn,
Những mong là kể đến người hiền.
Chỉ trong quãng ngắn nắm quyền,
Để rồi sa sẩy cánh liền toé loe.
Trong cơ quan bạn bè thay đổi,
Chức thấp hèn, mệnh mới yên vui.
Chịu cắt bỏ, chốn cỏ tươi,
Cái phận tóc bạc ai người thương cho.
Kể về nghèo học trò Nguyên Hiến,
Lão nho già nói đến Phục Kiền.
Làm thầy chưa xứng với tên,
Tại chốn làng nước mâm trên ai ngồi.
Các bạn xưa nghĩ thôi đứt ruột,
Buồn thời nay con mắt muốn lòi.
Cọc xanh cầu ván chơi vơi,
Trong hồ, bụi đỏ bám chồi hoa sen
Bút ông Giả nói lên nỗi bực,
Thơ ông Nghiêm cũng được vài bài.
Trong lòng tấm tức giữ hoài,
Cũng không tiết lộ cho người ngoài nghe.
Loại gấm quý không hề ngưng dệt,
Sợi tơ hồng bị đứt khi nào.
Cò bên bãi phòng bể đầu,
Cắt trong sương cứ định nhào xuống đâm.
Đất chật hẹp lại thêm nóng nực
Núi nhiều cây cắt đứt dòng khe.
Ngày vui cùng với bàn cờ,
Quanh năm dùng rượu mà lơ cuộc đời.
Sau cùng nhỏ bé coi một quận.
Quyền tư mã đã chấm dứt rồi.
Kí quèn mong được yên đời,
Hứng lên về ẩn mà vui cấy cày.
Đi đi thôi, tài hay khó được,
Mờ mịt thay lý học huyền vi.
Người xưa từng cảm thấy ghê,
Đạo ta dự đoán tới giờ cáo chung.
Ngư Dương lại giương cung chống trả.
Vùng Lũng Ngoại tất tả dấn thân.
Cười rằng vì luỵ vợ con,
Cam chịu ngày tháng xoay vần đẩy đưa.
Thân thích ngày một thưa thớt bớt,
Việc hành quân cứ đợt tiếp liền.
Xứ người thảng thốt mộng hồn,
Khó khăn do bởi tan đàn đó thôi.
Lắm bệnh thuyền chậm rời khỏi bến,
Việc ca dài ngăn cản tĩnh yên.
Như ông đúng bậc tài hiền,
Chí còn, vùng vẫy ắt còn như xưa.
(Năm 759)

[1] Người Thành Kỷ, Lũng Tây (nay là huyện Tần An, Cam Túc), một vị tướng thời Tây Hán, đánh thắng Hung Nô nhiều trận, khiến được tôn xưng là phi tướng quân. Sau này theo phò đại tướng Vệ Thanh 軍衛 đánh Hung Nô, vì đi lạc đường bị bắt, cảm thấy nhục làm thân tù của người Phiên, nên cắn lưỡi mà chết.
[2] Hán Vũ Đế sai Trương Khiên đi sứ Tây Vực, tới xứ Ô Tôn (vùng Tân Cương) và Đại Uyển (Nguyệt Chi), lấy được giống ngựa tốt mang về.
[3] Khởi sự chiến tranh.
[4] Chỉ mối duyên tốt đẹp. Đây chỉ vua Đường gả công chúa cho vua Hung Nô để cầu thân.
[5] Sông phát xuất từ huyện Mạnh Tân, Hà Nam, chảy qua huyện Lạc Dương rồi đổ vào sông Lạc.
[6] Đổng Trác tự Trọng Dĩnh 仲穎, người thời Hán. Khi Linh Đế băng hà, mang quân về kinh sư và tiếm quyền.
[7] Phù Kiên (338-385) tự Vĩnh Cố 永固, người dân tộc Đê ở Lược Dương, từng diệt nước Tiền Yên, chiếm Cừu Trì, cô lập Tấn ở Hán Trung, chiếm Thành Đô, ghìm nước tiền Lương giữ yên được Đại Địa. Dùng Vương Mãnh 王猛 cai trị nước, biến vùng Ngũ Hồ thành một quốc gia hùng mạnh. Sau khi Mạnh chết, mang binh đi đánh Tấn, cùng với Tạ Huyền 謝玄, giao tranh ở Phì Thuỷ, thua to nên rút lui, sau bị Diêu Trường 姚萇 giết chết.
[8] Do chữu "tinh vệ điền hải" 精衛填海.
[9] Huyện nay là Bảo Kê, Thiểm Tây.
[10] Núi tại đông nam huyện Mi, Thiểm Tây.
[11] Biên giới Hồ Bắc, Hà Nam.
[12] Vùng Hà Bắc, Liêu Ninh.
[13] Trường An và Lạc Dương.
[14] Theo bài phú của Tư Mã Tương Như: "Đãng đãng hồ bát xuyên phân lưu, tương bối dị thái" 蕩蕩乎八川分流相背異態. Tám con sông là Phong 酆, Cảo 鎬, Bá 灞, Sản 產, Kinh 涇, Vị 渭, Liêu 潦, Duật 潏.
[15] Chỉ cung vua, vì sân trong cung vua có cỏ xanh mịn.
[16] Nguyên Hiến tự Tử Tư 子思, học trò Khổng Khâu, cũng còn có tên là Nguyên Tư 原思, người nước Lỗ thời Xuân Thu, nhà nghèo nhưng an bận lạc đạo.
[17] Cũng có tên là Trọng 重, là Kỳ 祇, tự Tử Chân 子慎, người thời Đông Hán, tỉnh Hà Nam. Từng giữ chức thái thú Cửu Giang.
[18] Năm 650, Đường Cao Tông đổi chức quan trị trung thành tư mã. Đỗ Phủ muốn đề cập tới sự kiện quan tư mã Giả Chí nay không còn quyền hành gì.
[19] Theo Luận ngữ: "Tử tại xuyên thượng viết: Thệ giả như tư phù, bất xá trú dạ" 子在川上曰:逝者如斯夫,不舍晝夜.
[20] Vùng đất phía tây tỉnh Cam Túc.
[21] Chỉ An Lộc Sơn, khởi binh ở Ngư Dương, tỉnh Hà Bắc.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Ký Nhạc Châu Giả tư mã lục trượng, Ba Châu Nghiêm bát sứ quân lưỡng các lão ngũ thập vận