12/12/2019 15:45Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Di chúc văn
遺囑文

Tác giả: Nguyễn Khuyến - 阮勸

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Cận đại
Đăng bởi Vanachi vào 05/04/2006 09:39

 

Nguyên tác

我年值八八,
我數逢九九。
嗟哉我德涼,
壽紀邁先考。
嗟哉我學淺,
魁然占龍首。
豈非先考齡,
留以錫爾父。
豈非先考名,
不做以留後。
平日無寸功,
俯仰已慚負。
足矣亦何求,
死葬勿淹久。
死幸得全歸,
葬幸得親附。
棺衾不可美,
只以斂足手。
具饌不可豊,
只以答奔走。
不可寫祝文,
不可為對句。
不可設銘旌,
不可題神主。
不可達門生,
不可訃僚友。
賓客不可招,
賵吊不可受。
此皆纍於生,
死者亦奚有。
惟以重吾過,
囂然眾多口。
惟於葬之日,
旗扁導前柩。
竽工八九人,
吹送列左右。
草草死葬完,
酹我以杯酒。
所得新敕憑,
封還納使府。
爰題某石碑,
皇阮故休叟。

Phiên âm

Ngã niên trị bát bát[1],
Ngã số phùng cửu cửu[2].
Ta tai ngã đức lương,
Thọ kỷ mại tiên khảo.
Ta tai ngã học thiển,
Khôi nhiên chiêm long thủ[3].
Khởi phi tiên khảo linh,
Lưu dĩ tích nhĩ phụ.
Khởi phi tiên khảo danh,
Bất tố dĩ lưu hậu.
Bình nhật vô thốn công,
Phủ ngưỡng dĩ tàm phụ.
Túc hĩ diệc hà cầu,
Tử táng vật yêm cửu.
Tử hạnh đắc toàn quy[4],
Táng hạnh đắc thân phụ.
Quan khâm bất khả mỹ,
Chỉ dĩ liễm túc thủ.
Cụ soạn bất khả phong,
Chỉ dĩ đáp bôn tẩu.
Bất khả tả chúc văn,
Bất khả vi đối cú.
Bất khả thiết minh tinh[5],
Bất khả đề thần chủ[6].
Bất khả đạt môn sinh,
Bất khả phó liêu hữu.
Tân khách bất khả chiêu,
Phúng điếu bất khả thụ.
Thử giai luỵ ư sinh,
Tử giả diệc hề hữu[7].
Duy dĩ trọng ngô quá,
Hiêu nhiên chúng đa khẩu.
Duy ư táng chi nhật,
Kỳ thiên đạo tiền cữu.
Vu công bát cửu nhân,
Xuy tống liệt tả hữu.
Thảo thảo tử táng hoàn,
Lỗi ngã dĩ bôi tửu.
Sở đắc tân sắc bằng,
Phong hoàn nạp sứ phủ[8].
Viên đề mỗ thạch bi,
Hoàng nguyễn cố hưu tẩu.

Dịch nghĩa

Tuổi ta vừa tám mươi tám,
Số ta gặp vận dương cửu.
Than ôi đức ta kém!
Tuổi thọ lại hơn cha ta.
Than ôi, sức học ta nông cạn
Lại nghiễm nhiên chiếm đầu rồng.
Há chẳng phải tuổi của cha ta,
Lưu lại để cho ta sao?
Há chẳng phải danh của cha ta,
Không thành đạt thì để cho đời sau sao?
Suốt đời ta chẳng có chút công gì,
Cúi nhìn đất, ngửa nhìn trời đã lấy làm hổ thẹn.
Thế là đủ rồi, chẳng còn cầu gì,
Chết thì chôn đừng để lâu.
Chết may được toàn vẹn mà chết,
Chôn may được chôn gần mẹ cha.
Quan tài, khâm liệm, không nên đẹp,
Chỉ đủ gói kín chân tay thì thôi.
Cỗ bàn không nên làm to,
Chỉ để thết đãi người giúp việc.
Không được viết văn tế,
Không được làm câu đối,
Không được đặt minh tinh,
Không được đề thần chủ,
Không được đặt giấy báo cho học trò,
Không được cáo phó với bè bạn,
Không được mời khách khứa,
Không được nhận phúng viếng.
Những cái đó đều làm luỵ cho người sống,
Người chết cũng chẳng được gì.
Chỉ làm thêm nặng tội lỗi cho ta,
Ồn ào thêm nhiều miệng tiếng.
Duy có ngày cất đám,
Cờ biển rước đi trước quan tài.
Thợ kèn tám chín người,
Đi hai bên tả hữu thổi kèn đưa tiễn.
Chôn cất qua loa cho xong,
Rót xuống đất cho ta chén rượu.
Bằng sắc mới được ban,
Hãy gói lại đem nộp cho dinh quan Sứ.
Rồi đề bia đá ở mộ rằng:
“Ông già triều nhà Nguyễn về hưu đã lâu”.

Bản dịch (của Bản dịch của Trần Tán Bình)

Kém hai tuổi xuân đầy chín chục,
Số sinh ra gặp lúc dương cùng;
Đức thầy đã mỏng mòng mong,
Tuổi thầy lại sống hơn ông cụ thầy.
Học chẳng có rằng hay chi cả,
Cưỡi đầu người kể đã ba phen;
Tuổi thầy tuổi của gia tiên,
Cho nên thầy được hưởng niên lâu dày.
Ấy thủa trước ông mày chửa đỗ,
Hoá bây giờ để bố làm xong.
Ơn vua chửa chút đền công.
Cúi trông thẹn đất ngửa trông thẹn trời.
Sống được tiếng trên đời trọn vẹn,
Chết lại gần quê quán hương thôn.
Mới hay trăm sự vuông tròn,
Ăn chơi đã trải chết chôn chớ hề.
Đồ khâm liệm chớ nề xấu tốt,
Kín chân tay đầu gót thì thôi;
Cỗ đừng hậu lắm con ơi,
Hễ ai chạy lại khuyên mời người ăn.
Tế đừng có viết văn mà đọc,
Đối trướng đừng gấm vóc làm chi;
Minh tinh con cũng bỏ đi,
Mời quan đề chủ con thì chớ nên.
Môn sinh chẳng tống tiền đạt giấy,
Bạn với thầy cũng vậy mà thôi;
Khách con con chớ khuyên mời,
Lễ đưa điếu phúng con thời chớ thu.
Ấy chẳng qua bận cho người sống,
Chết đi rồi còn ngóng vào đâu;
Lại mang cái tiếng to đầu,
Khi nay bày biện khi sau chê bàn.
Cờ biển của vua ban ngày trước,
Lúc đưa thầy con rước đầu tiên;
Lại thuê một lũ thợ kèn,
Vừa đi vừa thổi mỗi bên dăm thằng.
Việc tống táng lăng nhăng qua quýt,
Chuốc cho thầy một ít rượu be;
Đề vào mấy chữ trong bia,
Rằng: “Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu”.
Rút từ Tam nguyên Yên Đổ thi ca (VNb.46), Đối liên tạp lục (VNv.151).

Theo Tạp chí Hán Nôm số 2-2009 thì bài này có tên là Trị mệnh 值命, tức lời trăng trối khi còn tỉnh táo. Tích Nguỵ Thù thời Xuân Thu lúc còn khoẻ dặn con: “Khi ta chết, cho người hầu của ta đi lấy chồng”. Khi Nguỵ Thù sắp chết lại dặn: “Khi ta chết thì đem người hầu của ta chôn sống với ta”. Lúc Nguỵ Thù chết, con Nguỵ Thù cho người hầu của bố đi lấy chồng, và nói rằng: “Ta làm theo lời bố ta dặn khi còn tỉnh táo chứ không làm theo lời bố ta khi đã lẫn” (tòng trị mệnh bất tòng loạn mệnh).

Nguồn:
1. Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971 (tái bản 1979)
2. Nguyễn Khuyến – Tác phẩm, Nguyễn Văn Huyền chủ biên, NXB Khoa học xã hội, 1984
3. Thi hào Nguyễn Khuyến: đời và thơ, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, 1994
4. Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, Trần Văn Nhĩ, NXB Văn nghệ, 2005
Theo các văn bản Hán Nôm, bài dịch này là do tác giả tự dịch. Tuy nhiên, theo sách Nguyễn Khuyến – Tác phẩm (Nguyễn Văn Huyền chủ biên, NXB Khoa học xã hội, 1984), một số cụ già ở địa phương nói đây là bài dịch của cụ Trần Tán Bình trong buổi lễ đưa tang Nguyễn Khuyến.

Nguồn:
1. Tuần báo Phong hoá, số ra ngày 28-7-1932
2. Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971 (tái bản 1979)
3. Thi hào Nguyễn Khuyến: đời và thơ, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, 1994
[1] Nguyễn Khuyến thọ 74 tuổi (1835-1909). Không hiểu tại sao câu này lại nói thọ đến 88 tuổi. Có ý kiến đoán rằng: “bát bát” trong câu chữ Hán có nghĩa là: “tám lần tám” (tức 64), do đó câu này có thể là: “kém sáu tuổi đầy bảy chục”. Cách giải thích cho rằng “bát bát” là một quẻ trong Kinh Dịch, là quẻ “bát thuần”, một quẻ xấu không biến đổi được. Tức tuổi đời của tác giả đến đây là hết. Tạp chí Sông Châu (Hà Nam) đã dùng cách tính Dịch số đơn giản của dân gian tính rằng: cặp quái (quẻ) âm dương “bát bát” “cửu cửu” vế trên hai hào, vế dưới ba hào nên 8x8=64 và 9x9+3=84. Cộng cả hai vế, chia đôi bằng 75 - chính là tuổi thọ thật của tác giả tính theo âm lịch.
[2] Quẻ dương cùng (quẻ hết). Số dương, cửu là số cuối cùng.
[3] Đầu rồng, người thi đỗ tiến sĩ ngày xưa được ghi tên trên giấy vàng có vẽ đầu rồng dán trên bảng. Người đỗ đầu được ghi tên vào đầu rồng.
[4] Người xưa đi xa quê, lúc chết ước sao được hai điều: một là được toàn vẹn thân xác, hai là được chôn trên đất quê hương để tránh mang tiếng là đã bị hình phạt vì tội lỗi hay vì bất hạnh nào đó.
[5] Một mảnh lụa, mảnh vải hoặc mảnh giấy đề tên hiệu, tên thuỵ, tuổi và chức tước, địa vị người chết trong khi đưa đám ma.
[6] Mảnh giấy ghi tên tuổi, chức vụ, công trạng của người đã mất, bên cạnh ghi tên người thờ cúng. Mảnh ván được đặt lên bàn thờ để thờ. Phải mời người có học thức, có uy tín viết thân chủ.
[7] Không có gì, không được gì.
[8] Tức phủ Thống sứ của thực dân Pháp, bộ máy cai trị của chúng thiết lập sau khi chúng được triều đình nhà Nguyễn dâng đất Bắc Kỳ. Mọi việc thưởng, phạt đều do chúng quyết định, nhưng lại lấy danh nghĩa triều đình nhà Nguyễn. Nguyễn Khuyến quá hiểu âm mưu xảo quyệt này của chúng nên đã dặn con cháu sau khi mình chết sẽ đem trả những thứ chúng ban tặng để tỏ rõ thái độ bất hợp tác với chúng.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Khuyến » Di chúc văn