15/10/2019 10:32Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tương giang dạ bạc
湘江夜泊

Tác giả: Nguyễn Du - 阮攸

Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 23/07/2005 03:38

 

Nguyên tác

一去六十里,
悠悠江水長。
浮雲連五嶺,
明月會三湘。
別浦分新色,
遥空失故鄉。
鶴來人不見,
晚樹鬱滄滄。

Phiên âm

Nhất khứ lục thập lý,
Du du giang thuỷ trường.
Phù vân liên Ngũ Lĩnh[1],
Minh nguyệt hội Tam Tương[2].
Biệt phố phân tân sắc,
Dao không thất cố hương.
Hạc lai[3] nhân bất kiến,
Vãn thụ uất thương thương[4].

Dịch nghĩa

Đi một mạch sáu mươi dặm
Nước sông chảy dài dằng dặc
Mây nổi nối liền dãy Ngũ Lĩnh
Trăng sáng tụ lại vùng Tam Tương
Phố xa chia sắc đẹp mới
Trời vòi vọi làm mất cố hương
Hạc trở lại nhưng không thấy người cưỡi hạc
Cây buổi tối chứa lạnh lẽo

Bản dịch (của Bản dịch của Quách Tấn)

Một đi sáu mươi dặm
Dòng cuộn nước mênh mang
Mây giăng liền Ngũ Lãnh
Trăng ngập tràn Tam Tương
Bến tiễn chia xuân sắc
Trời xa lấp cố hương
Hạc về người chẳng thấy
Cây biếc lạnh ngàn sương
[1] Dãy núi cao năm ngọn chạy giáp địa phận hai tỉnh Hồ Nam và Quảng Tây.
[2] Tương giang bắt nguồn từ Quảng Tây chảy theo hướng Đông bắc vào tỉnh Hồ Nam, lúc đầu hợp với Ly Thủy gọi là Ly Tương, sau hợp với Tiêu Thủy thành Tiêu Tương, rồi chảy lên phía bắc huyện Hành Dương hợp với Chưng Thủy gọi là Chưng Tương (cho nên gọi là Tam Tương), sau chảy đến Trường Sa, vào Hồ Ðộng Ðình.
[3] Nhắc tích ông Phí Văn Huy cỡi hạc vàng lên tiên ở lầu Hoàng Hạc, lầu này ở phía tây nam huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc, gần vùng Tương Giang.
[4] Lạnh lẽo. Có bản chép là thương xanh.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Du » Tương giang dạ bạc