20/09/2021 05:59Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Thu dạ kỳ 1
秋夜其一

Tác giả: Nguyễn Du - 阮攸

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 12/07/2005 22:07

 

Nguyên tác

繁星歷歷露如銀,
東壁寒蟲悲更辛。
萬里秋聲催落葉,
一天寒色掃浮雲。
老來白髮可憐汝,
住久青山未厭人。
最是天涯倦遊客,
窮年臥病桂江津。

Phiên âm

Phồn tinh lịch lịch lộ như ngân,
Đông bích hàn trùng[1] bi cánh tân.
Vạn lý thu thanh thôi lạc diệp,
Nhất thiên hàn sắc tảo phù vân
Lão lai bạch phát khả liên nhữ
Trú cửu thanh sơn vị yếm nhân
Tối thị thiên nhai quyện du khách
Cùng niên ngoạ bệnh Quế giang[2] tân.

Dịch nghĩa

Sao dày đặc, trông rõ mồm một, sương trắng tựa bạc,
Vách phía đông, dế gặp lạnh, kêu buồn thảm.
Suốt muôn dặm, tiếng thu giục lá cây rụng,
Bầu trời lạnh ngắt, không một vầng mây.
Đến tuổi già, mái tóc bạc, trông mà thương cho anh!
Ở mão nơi đấy, thế mà rặng núi xanh kia vẫn chưa chán người.
Buồn nhất là kẻ du khách ở nơi chân trời đã mỏi mệt,
Lại suốt năm đau ốm, nằm trên bến Quế giang này.

Bản dịch của Nguyễn Thạch Giang

Sao sáng đầy trời sương tực bạc,
Sâu từng kêu lạnh giọng bi ai.
Một trời khí buốt xua mây lạnh,
Muôn dặm hơi thu giục lá rơi.
Ở mãi, non xanh chưa chán khách,
Về già tóc bạc khá thương người.
Bên trời du khách chân đà mỏi,
Sông Tuế quanh năm cứ ốm hoài.
Nguồn: Quách Tấn, Tố Như thi trích dịch, An Tiêm xuất bản, Sài Gòn, 1973
[1] Con dế. Người xưa cho rằng giống dế này thích chỗ ấm áp nên trú ở vách nhà nơi hướng đông có ánh mặt trời soi ấm. Đông bích và hàn trùng thường đi đôi với nhau trong văn chương cổ. Cổ thi đời Hán: “Minh nguyệt kiểu dạ quang, Xúc chức minh đông bích” 明月皎夜光,促織鳴東壁 (Trăng sáng soi đêm trong, Dế mèn kêu tường đông).
[2] Tức sông Lam. Có nơi chép là Tuế giang, chưa rõ ở đâu.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Du » Thu dạ kỳ 1