06/07/2022 11:42Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Văn tế Nguyễn Thị Tồn

Tác giả: Bùi Hữu Nghĩa - 裴有義

Thể thơ: Phú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 12/01/2008 07:09

 

Hỡi ôi!
Gió Nữ[1] phất phơ;
Mưa Ngâu[2] lác đác.

Duyên bình thuỷ sum vầy đà tan rã, ngạt ngào bọt nước sóng xao;
Đuốc loan phòng[3] tỏ rạng phút khêu lờ, sảng sốt ngọn đèn gió tạt.

Nhớ linh xưa:
Tánh đúc son vàng;
Tình không đen bạc.

Chen với nguyệt tròn hơn nguyệt, phòng khuê đà rực rỡ gương trong;
Ở trên trần mà chẳng nhuốm trần, vườn dâu[4] khỏi lắm nhơ bụi cát.

Trong vấy màu bùn chẳng đục, những dự sang giàu, của trăm xe đưa rước vào màng;
Nghèo manh khố chuối mà thanh, phải duyên đằm thắm, cầu mấy nhịp xa xôi gánh vác.

Ở với mẹ đã trọn niềm hiếu hạnh, chìu lòng theo lân lý[5] với anh em;
Lúc theo chồng vui biết chữ xướng tuỳ, đẹp đẽ với xóm giềng chú bác.

Ưa mùi đạo khuyên chồng nấu sử, nam tử may nợ nước đền bồi;
Thảo nhờ thân vẹn phận chưng lê[6], nữ công trọn giềng nhà gánh vác.

Trường khoa mục[7] qua nong[8] chí cả, ít nhiều đà rỡ mặt với non sông;
Nhà hàn vi hậu dốc tay nâng, may mắn đặng cất đầu cùng bạn tác.

Chồng vợ thảm đều không cha mẹ, em luống than phận lẻ loi;
Câu cô hoà một cửa anh em, tình vui thuận lời không chích mác.

Công danh lỡ vì mang bệnh quỉ, em chẳng phải vợ Mãi Thần[9] ngày trước, thời chưa nên làm thói dể duôi;
Khó hèn cam nào dám trách trời, bậu chẳng như vợ Tô Tần[10] ngày nọ, vận chưa đạt mà đem lòng khi bạc.

Phận khó khăn yếu đuối, vóc liễu bồ dầu dãi nắng mưa;
Con nhỏ dại thơ ngây, tay chủ quỉ[11] không rời thước tấc.

Ở theo thời, làm theo thế, qua khỏi tuần sấm đất tan bia;
Bay kịp chúng, nhảy kịp thời mới đặng hưởng gió thần đưa các[12].

Nghiệp tiên thế[13] anh lo gây dựng, mừng thầm đà mở mặt với hương lân[14];
Đạo thánh hiền bậu dốc khuyến dương, gắn bó đã nên gương cùng hậu giác.

Ăn cần ở kiệm, giàu không khoe, khó cũng không đua;
Mua nghĩa chác nhơn, trước chẳng phai sau chẳng lạt.

Chữ thê tùng phu quý[15] em nan than chẳng nhờ của cũng nhờ công;
Câu phụ tác tử thừa[16] bậu nong nả chưa nên vai đà nên vác.

Ốc[17] đà hết lúc gian truân;
Hay chưa tới chừng hanh đạt[18].

Bỗng đâu khiến gió day mưa tạt, non hoa hạc lánh[19] trầm trầm;
Nào hay nỗi vật đổi sao dời, cửa sổ ngựa qua[20] thoát thoát.

Ôi!
Sông Lệ vàng chìm;
Non Côn ngọc nát[21].

Cảnh giai lão[22] trách lòng trời đất, khó có nhau giàu cũng có nhau;
Quỉ vô thường[23] làm cuộc bể dâu[24], vật tráo chác người sao tráo chác.

Con cháu tuổi thơ ngây một bóng, em bào đành nhắm mắt tầm tiên[25];
Chồng trăm bề lo lắng một mình, bậu bao nỡ sấp lưng cưỡi hạc[26].

Ai mượn lão Diêm phù[27] rước khách, mẹ lìa con vì gã ức oan;
Ai mượn ngươi Quỷ bá[28] đưa người, chồng xa vợ ở ngươi nên bạc ác.

Chữ “đại đức tất đắc kỳ thọ[29]” đọc tới phát buồn;
Câu “tích phước tất hữu dư khương[30]” nghe càng thêm lạt.

Qua bể bậu chẳng bằng tiền đũa, phận phân gương[31] chẳng kịp nửa giờ;
Trời giết người chi sá gươm đao, chứng nghèo ngặt không đầy một lát.

Đêm khuya hãy nâng niu một trẻ, nghĩ từ cơn, ruột tợ kim châm;
Ngày ra nào vắng vẻ không em, nhớ từ chặn, gan dường muối xát.

Cuộc long hổ[32] lấp rồi ba tấc đất, ôi thôi rồi má phấn hồng nhan;
Bạn phụng loan[33] phân rẽ một phương trời, lo đáo để duyên đơn phận bạc[34].

Đã biết kiếp thác là kiếp mất, tấm lòng thành đủ bảy tuần chay;
Cho hay người mất mà nghĩa còn, thô lễ[35] tế vài mâm mặn lạt.

Hỡi ôi, tiếc thay!
Hỡi ôi, tiếc thay!
Nguyễn Thị Tồn tức vợ tác giả. Có sách chép bài văn tế có thêm hai câu sau đây:
Nơi kính quốc mấy hồi trống gióng, biện bạch này oan nọ ức, đứng hiền lương mắt thấy thảy đau lòng;
Chốn tỉnh đường một tiếng hét vang, hẳn hoi lẽ lời nghiêm, lũ bằng đảng tai nghe đà mất vía.
Nguồn: Văn học Việt Nam nơi miền đất mới, Nguyễn Quyết Thắng, NXB Văn học, 2009
[1] Sao Chức Nữ.
[2] Sao Ngưu Lang. Hai câu ý nói vợ chồng ly biệt.
[3] Phòng của người đã có vợ chồng.
[4] Xưa trai, gái nước Trịnh, Vệ thường hẹn nhau ra vườn dâu tự tình.
[5] Xóm làng.
[6] Lo lẵng đỡ đần, giỗ quải.
[7] Danh mục các khoa thi.
[8] Nong nả, nôn nao làm cho kỳ xong việc.
[9] Người đời Hán, lúc chưa làm nên bị vợ phụ rảy.
[10] Người đời Đông Chu, có tài biện thuyết, thuở chưa làm nên, bị vợ đối đãi tàn tệ.
[11] Coi sóc việc cửa nhà.
[12] Do câu “Thời lai phong tống Đằng Vương các, Vận khứ lôi oanh Tiến Phúc bi” (Gặp thời gió đưa đến gác Đằng Vương, Vận cùng sấm đánh đổ bia Tiến Phúc). Đằng Vương các là một danh thắng ở Quảng Tây, Vương Bột đời Đường ngồi thuyền được gió đưa dạt tới đây trong một đêm, trước tiệc làm bài tự Đằng Vương các nổi tiếng. Một người học trò khó dâng thơ cho Phạm Trọng Yêm mà than rằng: Bình sinh chưa được no một lần nào, Trọng Yêm thương tình cho tiền mua giấy mực, vỗ bia Tiến Phúc mà bán, nhưng vận cùng, sắp đặt vừa xong thì trời dông, sấm dậy, sét trúng ngay bia vỡ nát.
[13] Đời trước.
[14] Chòm xóm.
[] Người sau hay giỏi.
[15] Vợ theo chồng là quý.
[16] Cha làm con nối.
[17] Những ngỡ.
[18] Thông suốt. Vận đỏ, tốt.
[19] Lìa trần về núi, chỉ sự chết.
[20] Ý nói thì giờ qua chóng, đời người ngắn ngủi.
[21] Vàng sông Lệ, ngọc non Côn là quý nhất.
[22] Vợ chồng cùng ở với nhau đến già.
[23] Sách Phật, vô thường chỉ sự thay đổi vô tận, vô thường còn dùng để chỉ sự chết, con nên hình dung nó là quỷ vô thường.
[24] Do chữ “Thương hải biến vi tang điền” (Bể xanh biến thành ruộng dâu), ý nói cuộc đời biến đổi. Xuất xứ từ Thần tiên truyện: tiên nữ tên là Ma Cô bảo với Vương Phương Bình “Từ khi tôi biết đến giờ, thấy bể xanh biến thành ruộng dâu ba lượt”.
[25, 26] Ý nói chết.
[27] Người chủ trương cõi âm.
[28] Người dẫn hồn người chết về cõi âm.
[29] Đức to ắt được sống lâu.
[30] Tích phút ắt lắm điều tốt đẹp.
[31] Chia rẽ.
[32] Theo thuật phong thuỷ, phán tìm nơi đất tốt mà chôn cất.
[33] Vợ chồng khăng khít vui hoà như chim loan chim phụng.
[34] Duyên lẻ loi, phận mỏng.
[35] Món dâng cúng chẳng là bao.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Bùi Hữu Nghĩa » Văn tế Nguyễn Thị Tồn