18/11/2019 23:15Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Thính Đổng Đại đàn Hồ già kiêm ký ngữ lộng Phòng cấp sự
聽董大彈胡笳聲兼寄語弄房給事

Tác giả: Lý Kỳ (I) - 李頎

Thể thơ: Cổ phong (cổ thể); Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 14/05/2006 05:24

 

Nguyên tác

蔡女昔造胡笳聲,
一彈一十有八拍。
胡人落淚沾邊草,
漢使斷腸對歸客。
古戍蒼蒼烽火寒,
大荒沈沈飛雪白。
先拂聲弦後角羽,
四郊秋葉驚慽慽。
董夫子,通神明,
深山竊聽來妖精。
言遲更速皆應手,
將往復旋如有情。
空山百鳥散還合,
萬里浮雲陰且晴。
嘶酸雛雁失群夜,
斷絕胡兒戀母聲。
川為靜其波,
鳥亦罷其鳴。
烏孫部落家鄉遠,
邏娑沙塵哀怨生。
幽音變調忽飄灑,
長風吹林雨墮瓦。
迸泉颯颯飛木末,
野鹿呦呦走堂下。
長安城連東掖垣,
鳳凰池對青瑣門。
高才脫略名與利,
日夕望君抱琴至。

Phiên âm

Thái nữ[1] tích tạo Hồ già[2] thanh,
Nhất đàn nhất thập hữu bát phách.
Hồ nhân lạc lệ triêm biên thảo,
Hán sứ[3] đoạn trường đối quy khách.
Cổ thú thương thương phong hoả hàn,
Đại hoang âm trầm phi tuyết bạch.
Tiên phất thương huyền hậu giốc vũ,
Tứ giao thư diệp kinh kích thích.
Đổng phu tử, thông thần minh,
Thâm tùng thiết thính lai yêu tinh.
Ngôn trì cánh tốc giai ứng thủ,
Tương vãn phục tuyền như hữu tình.
Không sơn bách điểu tán hoàn hợp,
Vạn lý phù vân âm thả tình.
Tê toan sồ nhạn thất quần dạ,
Đoạn tuyệt Hồ nhi luyến mẫu thanh.
Xuyên vi tĩnh kỳ ba,
Điểu diệc bãi kỳ minh.
Ô châu[4] bộ lạc gia hương viễn,
La Sa[5] sa trần ai oán sinh.
U âm biến điệu hốt phiêu sái,
Trường phong xuy lâm, vũ đoạ ngoã,
Bích tuyền táp táp phi mộc mạt,
Dã lộc ao ao tẩu đường hạ.
Trường An thành liên Đông Dịch viên,
Phụng Hoàng trì đối Thanh Toả môn.
Cao tài thoát lược danh dữ lợi,
Nhật tịch vọng quân bão cầm chí.

Dịch nghĩa

Xưa nàng Thái Diễm sáng tác khúc Hồ già,
Một lần gảy mười tám bản đàn.
Người Hồ rơi lệ ướt đẫm cỏ biên cương,
Sứ Hán đứt ruột trước kẻ trở về.
Đồn xưa man mác, đài lửa hiệu lạnh lùng,
Cõi đại hoang u ám, tuyết bay trắng xoá.
Trước nắn dây thương, sau nắn giốc vũ,
Bốn bề lá thu lay động xao xuyến.
Bác Đổng thông cảm được với thần minh,
Yêu tinh trong rừng thông rậm rạp đến nghe lén.
Đàn chậm lại nhanh, [cõi lòng] thể hiện ở nơi tay,
Gọi quá khứ rồi về hiện tại như có tình ý.
Trên núi hoang, trăm chim bay tan rồi nhóm lại,
Mây nổi muôn dặm âm u và sáng sủa.
Chua xót như nhạn non lạc bầy trong đêm tối,
Nức nở như cháu bé người Hồ khóc lưu luyến mẹ.
[Đàn chậm] Sông lặng sóng
[Đàn dừng] Chim thôi kêu.
Ở bộ lạc Ô Châu xa cách quê nhà,
Gió cát La Sa nẩy sinh niềm ai oán.
Điệu đổi ra u buồn, chợt như gió nổi mưa tuôn,
Gió thổi qua rừng, mưa rơi mái ngói,
Nước suối ào ào đổ tận ngọn cây,
Hươu đồng chạy kêu ao ao dưới nhà.
Thành Trường An nối liền thành vườn Đông Dịch,
Ao Phụng Hoàng ở trước cửa điện Thanh Toả.
[Tôi biết bác] có tài cao mà không màng danh lợi,
Ngày đêm mong đợi bác ôm đàn đến...

Bản dịch (của Bản dịch của Xich Phi Ho @www.maihoatrang.com)

Thái Diễm xưa chế mười tám khúc
Điệu Hồ già than khóc chơi vơi
Cỏ biên Hồ lệ đẫm rồi
Đau lòng Hán sứ trông người viễn chinh.
Hoả đài lạnh đồn binh trống vắng
Đại hoang buồn tuyết trắng bay bay
Năm dây trầm bổng dưới tay
Bốn phương lay động lá cây rùng mình.
Chàng Đổng Đại thần minh hiểu đến
Tán thông xanh yêu lén nghe cầm
Tay tiên khoan nhặt thanh âm
Lại qua lưu luyến tình thâm muôn vàn.
Nơi núi vắng hợp tan bách điểu
Dứt âm u nắng chiếu ngàn mây
Xót xa con nhạn lạc bầy
Hồ nhi lìa mẹ khóc cay xé lòng.
Đàn ngưng khúc chợt sông im sóng
Lắng tiếng chim đồng vọng cung thương
Một đời du mục tha hương
La Sa gió bụi thê lương kiếp người.
Điệu u uất bỗng vời tiêu sái
Gió luồn rừng reo mái mưa tuôn
Ngọn cây ào ạt suối nguồn
Ngẩn ngơ tiếng hoẵng dưới vườn phi nhanh.
Vườn Đông Dịch Tràng thành tiếp nối
Thanh Toả môn nhìn tới Phụng Hoàng
Lợi danh cao khách chẳng màng
Ngày đêm mong bạn mang đàn tới chơi.
[1] Nàng Thái Diễm (177-?) tự Văn Cơ, người đất Ngữ (nay là tỉnh Hà Nam), sống vào thời Hán Linh Đế. Thái Diễm giỏi văn học, thông âm nhạc, lấy chồng là Vệ Trọng Đạo. Chồng chết, bà trở về nhà rồi bị bộ hạ Đổng Trác bắt, sau lọt vào tay giặc Hồ, lưu lạc sang Hung Nô, làm mười tám bài ca phổ vào đàn Hồ già. Bà ở đất Bắc 12 năm, sinh hai con, có tập thơ Bi phẫn thi. Sau Tào Tháo thương tình chuộc bà về, gả cho Đổng Tự (năm 208).
[2] Là loại nhạc cụ của người Hồ, có âm thanh nỉ non ai oán. Đến đời Đường, nhiều loại nhạc cụ của người Hồ được phổ biến rộng rãi như Hồ già, Tỳ bà (Hồ cầm), Giốc lật...
[3] Chỉ Tô Vũ, trung lang tướng đời Hán Nguyên Đế (48-33 TCN). Ông đi sứ Hung Nô, vì không chịu khuất nên bị chúa Thiền Vu giam giữ trong một cái hang lớn, không cho ăn uống. Ông phải lấy tuyết mà uống, nhai lông chăn mà ăn. Sau lại bị đày lên Bắc Hải chăn dê, suốt 19 năm bắt chuột mà ăn, bốc tuyết mà uống vẫn không hề đổi chí. Mãi đến đời Thành Đế (32-7 TCN) ông mới được về.
[4] Vùng dân tộc phía đông Trung Quốc.
[5] Tên thành, thủ đô của nước Thổ Phồn.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Lý Kỳ (I) » Thính Đổng Đại đàn Hồ già kiêm ký ngữ lộng Phòng cấp sự