11/05/2021 09:08Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Lục châu ca đầu
六州歌頭

Tác giả: Trương Hiếu Tường - 張孝祥

Thể thơ: Từ phẩm; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Nam Tống, Kim
Đăng bởi Vanachi vào 01/02/2008 18:07

 

Nguyên tác

長淮望斷,
關塞莽然平。
徵塵暗,
霜風勁,
悄邊聲,
黯銷凝。
追想當年事,
殆天數,
非人力,
洙泗上,
弦歌地,
亦羶腥。
隔水氈鄉,
落日牛羊下,
區脫縱橫。
看名王宵獵,
騎火一川明,
笳鼓悲鳴,
遣人驚。

念腰間箭,
匣中劍,
空埃蠹,
竟何成!
時易失,
心徒壯,
歲將零,
渺神京。
千羽方懷遠,
靜烽燧,
且休兵。
冠蓋使,
紛馳騖,
若為情。
聞道中原遺老,
常難望、
翠葆霓旌。
使行人到此,
忠憤氣填膺,
有淚如傾。

Phiên âm

Trường Hoài[1] vọng đoạn,
Quan tái mãng nhiên bình.
Trưng trần ám,
Sương phong kình,
Tiễu biên thanh,
Ảm tiêu ngưng.
Truy tưởng đương niên sự,
Đãi thiên số,
Phi nhân lực,
Thù Tứ[2] thượng,
Huyền ca địa,
Diệc thiên tinh.
Cách thuỷ chiên hương,
Lạc nhật ngưu dương[3] há,
Khu thoát tung hoành.
Khan danh vương tiêu liệp,
Kỵ hoả nhất xuyên minh,
Già cổ bi minh,
Khiển nhân kinh.

Niệm yêu gian tiễn,
Hạp trung kiếm,
Không ai đố,
Cánh hà thành!
Thì dị thất,
Tâm đồ tráng,
Tuế tương linh,
Diểu thần kinh.
Thiên vũ phương hoài viễn,
Tĩnh phong toại,
Thả hưu binh.
Quan cái sứ,
Phân trì vụ,
Nhược vi tình.
Văn đạo Trung Nguyên di lão,
Thường nan vọng,
Thuý bảo nghê tinh.
Sử hành nhân đáo thử,
Trung phẫn khí điền ưng,
Hữu lệ như khuynh.

Bản dịch của Nguyễn Xuân Tảo

Sông Hoài khuất mắt,
Cỏ rập ngập ải thành.
Bụi mờ phủ,
Sương gió mạnh,
Tiếng lặng tênh,
Lòng thổn thức.
Nhớ lại việc năm qua,
Tự trời xui,
Người đâu nổi.
Nơi lễ giáo,
Vui đàn hát,
Hoá hôi tanh.
Xóm lều cách bên sông,
Trâu dê về chiều tối,
Chằng chịt điếm canh.
Đêm đêm giặc quấy phá,
Đóm lửa rực dòng kênh,
Kèn chống buồn khua,
Ai nấy sợ kinh.

Nghĩ tên giắt lưng,
Kiếm trong bao,
Để bụi rỉ,
Việc không thành.
Thời cơ lỡ,
Chí mạnh uổng,
Năm trôi nhanh,
Mời mịt đế kinh.
Muốn lấy giáo hoá trị xa,
Rập khói lửa,
Tắt đao binh.
Sứ giả xe lọng,
Đi về nhộn nhịp,
Khó tả nỗi tình.
Nghe đâu bô lão Trung Nguyên,
Ngóng về nam,
Mong quân vua xuất chinh.
Nếu có ai tới đó,
Lòng trung phẫn bất bình,
Giọt lệ trào quanh.
Nguồn: Nguyễn Xuân Tảo, Tống từ, NXB Văn học, 1999
[1] Lúc này quân Kim chiếm hết vùng Trung Nguyên, vua tôi nhà Tống chạy về phía nam, lấy sông Hoài làm cương giới, do không có quân đóng giữ ven sông, để ải thành cỏ mọc rậm.
[2] Sông Thù, sông Tứ chảy qua Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, nơi quê của Khổng Tử giảng học trước kia. Sau này người ta lấy sông Thù, Tứ là nơi lễ giáo.
[3] Nước Kim ở phía bắc Trung Quốc, dân sống bằng nghề chăn nuôi, ở lều vải.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Trương Hiếu Tường » Lục châu ca đầu