25/11/2020 00:02Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Hậu Xích Bích phú
後赤壁賦

Tác giả: Tô Thức - 蘇軾

Thể thơ: Phú; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Bắc Tống, Liêu
Đăng bởi hongha83 vào 24/09/2008 08:30

 

Nguyên tác

是歲十月之望,步自雪堂,將歸於臨皋。二客從予,過黃泥之阪。霜露既降,木葉盡脫,人影在地,仰見明月。顧而樂之,行歌相答。

已而歎曰:「有客無酒,有酒無肴;月白風清,如此良夜何?」客曰:「今者薄暮,舉網得魚,巨口細鱗,狀如松江之鱸。顧安所得酒乎?」歸而謀諸婦。婦曰:「我有鬥酒,藏之久矣,以待予不時之需。」

於是攜酒與魚,復遊於赤壁之下。江流有聲,斷岸千尺。山高月小,水落石出。曾日月之幾何,而江山不可復識矣。予乃攝衣而上,履巉岩,披蒙茸,踞虎豹,登虯龍;攀棲鶻之危巢,俯馮夷之幽宮。蓋二客不能從焉。劃然長嘯,草木震動,山鳴谷應,風起水湧。餘亦悄然而悲肅然而恐,凜乎其不可留也。返而登舟,放乎中流,聽其所止而休焉。時夜將半,四顧寂寥。適有孤鶴,橫江東來,翅如車輪,玄裳縞衣,戛然長鳴,掠予舟而西也。

須臾客去予亦就睡。夢一道士,羽衣蹁躚,過臨皋之下,揖予而言曰:「赤壁之遊樂乎?」問其姓名,俯而不答。「嗚呼噫嘻!我知之矣。團昔之夜,飛鳴而過我者,非予也耶?」道士顧笑,予亦驚悟。開戶視之,不見其處。

Phiên âm

Thị tuế thập nguyệt chi vọng, bộ tự Tuyết Đường[1], tương quy ư Lâm Cao[2]. Nhị khách tòng dư, quá Hoàng Nê[3] chi phản. Sương lộ ký giáng, mộc diệp tận thoát, nhân ảnh tại địa, ngưỡng kiến minh nguyệt. Cố nhi lạc chi, hành ca tương đáp.

Dĩ nhi thán viết: “Hữu khách vô tửu, hữu tửu vô hào; nguyệt bạch phong thanh, như thử lương dạ hà?” Khách viết: “Kim giả bạc mộ, cử võng đắc ngư, cự khẩu tế lân, trạng như Tùng giang chi lô[4]. Cố an sở đắc tửu hồ?” Quy nhi mưu chư phụ. Phụ viết: “Ngã hữu đấu tửu, tàng chi cửu hĩ, dĩ đãi dư bất thì chi nhu.”

Ư thị huề tửu dữ ngư, phục du ư Xích Bích chi hạ. Giang lưu hữu thanh, đoạn ngạn thiên xích. Sơn cao nguyệt tiểu, thuỷ lạc thạch xuất. Tằng nhật nguyệt chi kỷ hà, nhi giang sơn bất khả phục thức hĩ. Dư nãi nhiếp y nhi thượng, lý sàm nham, phi mông nhung, cứ hổ báo, đăng cầu long; phan thê cốt chi nguy sào, phủ Phùng Di[5] chi u cung. Cái nhị khách bất năng tòng yên. Hoạch nhiên trường khiếu, thảo mộc chấn động, sơn minh cốc ưng, phong khởi thuỷ dũng. Dư diệc tiễu nhiên nhi bi túc nhiên nhi khủng, lẫm hồ kỳ bất khả lưu dã. Phản nhi đăng chu, phóng hồ trung lưu, thính kỳ sở chỉ nhi hưu yên. Thì dạ tương bán, tứ cố tịch liêu. Thích hữu cô hạc, hoành giang đông lai, sí như xa luân, huyền thường cảo y, kiết nhiên trường minh, lược dư chu nhi tây dã.

Tu du khách khứ dư diệc tựu thuỵ. Mộng nhất đạo sĩ, vũ y[6] biên tiên, quá Lâm Cao chi hạ, ấp dư nhi ngôn viết: “Xích Bích chi du lạc hồ?” Vấn kỳ tính danh, phủ nhi bất đáp. “Ô hô y hy! Ngã tri chi hĩ. Đoàn tích chi dạ, phi minh nhi quá ngã giả, phi dư dã gia?” Đạo sĩ cố tiếu, dư diệc kinh ngộ. Khai hộ thị chi, bất kiến kỳ xứ.

Dịch nghĩa

Ngày mười rằm tháng mười năm ấy, từ nhà Tuyết Đường ra đi, để về đình Lâm Cao. Hai người khách theo ta, qua giốc Hoàng Nê, sương móc đã xuống, lá cây rụng hết, bóng người ở dưới đất, ngửa trông lên thấy trăng sáng. Nhìn nhau vui vẻ, vừa đi vừa hát, người hát kẻ hát theo.

Rồi mà than rằng: “Có khách không có rượu, có rượu không có nhắm; trăng trong gió mát, đêm đẹp này biết làm thế nào?” Khách nói: “Buổi chiều hôm nay, nhắc lưới được cá, miệng lớn vây nhỏ, dáng như cá lô sông Tùng. Biết làm sao cho có rượu!” Về nhà bàn với vợ. Vợ nói: “Tôi có một đấu rượu, cất đi từ lâu, để đợi ông bất thần dùng đến.”

Rồi thì mang rượu và cá, lại đi chơi dưới núi Xích Bích. Có tiếng nước sông chảy, cách bờ xa nghìn thước. Núi như cao, trăng như nhỏ. Nước cạn đá chìa ra, trải ngày tháng chưa bao nhiêu, mà non sông (chỗ chơi trước) không nhận ra được nữa. Ta đành vén áo mà trèo lên, bước lên đá lởm chởm, rẽ đám cỏ rậm, ngồi lên (tảng đá hình) hổ báo, trèo lên (cành cây vòng như) con rồng, với tổ chim cắt chỗ chênh vênh, cúi xuống nhìn (Thuỷ cung) Bằng Di tối om. Chừng hai người khách không thể theo được, quát lên gọi to, cây cỏ rung động, núi hang vang lên, gió nổi nước bắn tung toé. Ta cũng nao núng mà buồn, nghiêm lặng mà sợ, ghê rợn không thể ở lại nữa. Trở ra mà lên thuyền, buông ra giữa dòng sông, mong đến chỗ dừng thuyền mà nghỉ ngơi. Lúc ấy gần nửa đêm, bốn bề vắng vẻ, chợt có một con hạc, bay ngang sông từ phía đông lại, cánh xoè như bánh xe, xiêm đen áo trắng, vụt nhiên kêu lên, lướt qua thuyền ta mà đi về hướng tây.

Chốc lát khách ra về, ta cũng đi ngủ. Mơ thấy một Đạo sĩ, áo lông (loài chim) phơi phới, đi qua dưới đình Lâm Cao, vái chào ta mà hỏi: “Đi chơi Xích Bích có vui không?” Ta hỏi tên họ, cúi đầu mà không trả lời. “Hỡi ơi ha ha! Ta đã biết rồi, liệu lúc đêm vừa đây, bay kêu qua thuyền ta, chẳng phải nhà ngươi đấy ư?” Đạo sĩ nhìn ta cười, ta cũng giật mình tỉnh dậy. Mở cửa trông ra, chẳng thấy đâu cả.

Bản dịch của Nguyễn Văn Bình

Ngày mười rằm tháng mười năm ấy
Từ Tuyết Đường đứng dậy ra đi
Lâm Cao thẳng lối đường về
Khách theo qua dốc Hoàng Nê hai người.
Sương tuyết xuống lá tơi bời rụng
Dưới bóng người, trên bóng trăng cao
Đoái trông phong cảnh vui sao
Vừa đi vừa hát nghêu ngao mấy bài.
Than thở có khách chơi rượu hiếm
Biết lấy gì chuốc chén vui chung
Rượu mà có, nhắm cũng không
Đêm nay gió mát trăng trong phí hoài.
Khách rằng: “Lúc vừa rồi nhắc vó
Được cá vào vây nhỏ miệng to
Tùng Giang tựa giống cá lô
Biết sao tìm được một vò rượu đây.”
Liền quay lại giãi bầy cùng vợ
Vợ thưa rằng: “Nhà có rượu tăm
Rượu này cất đã lâu năm
Dành cho thầy lúc bất thần mua vui.”
Rượu với cá tức thời tay xách
Lại theo dòng Xích Bích cùng đi
Sông reo cách bến xưa kia
Núi cao, trăng nhỏ, nước chìa đá ra.
Kể ngày tháng nào xa chi mấy
Mà non sông đã thấy khác nhiều
Ta liền vén áo trèo leo
Với non, vạch cỏ, vờn beo, cưỡi rồng.
Vin tổ cắt, nhòm cung Thuỷ Tế
Khách chậm chân không thể theo cùng
Kêu lên một tiếng hãi hùng
Cỏ cây vang động núi sông ồn ào.
Ta cũng thấy nao nao ghê rợn
Lòng chập chờn không muốn ngồi dai
Xuống thuyền theo nước sông trôi
Nhởn nhơ một lá chèo bơi đi về.
Nửa đêm lúc bốn bề im phắc
Bỗng miền đông chim hạc bay ra
Cánh xoè tựa bánh xe hoa
Xiêm đen áo trắng lướt qua nhẹ nhàng.
Vút đâu tiếng kêu vang vọng xuống
Vượt thuyền ta theo hướng tây đi
Đêm khuya khách trở ra về
Ta vào trong trướng say mê giấc vàng.
Thấy Đạo sĩ xênh sang khăn áo
Đến Lâm Cao bèn dạo qua chơi
Chào ta Đạo sĩ ngỏ lời:
“Cuộc chơi Xích Bích có vui chăng là?”
Hỏi tên họ khách đà ấp úng
Ô là ta biết đúng ngươi rồi:
“Lúc đêm bay vút ngang trời
Qua thuyền ta chẳng ngươi thời còn ai.”
Đạo sĩ mỉm miệng cười không nói
Ta giật mình cũng vội tỉnh ra
Đứng lên mở cửa trông qua
Tuyệt mù nào thấy người đà ở đâu.
Nguồn: Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề, Việt Nam ca trù biên khảo, Nhà in Văn Khoa, Sài Gòn, 1962
[1] Nhà Tuyết Đường. Tác giả dựng nhà Tuyết Đường ở phía nam Hoàng Châu, để cùng bạn hữu ra đọc sách. Từ nhà Đông Pha đến Tuyết Đường đi bộ vừa 430 bước. Nhà lợp cỏ tranh, bốn bề vách đất, chung quanh vách đều vẽ tuyết, nên gọi là Tuyết Đường. Chính tay tác giả viết bốn chữ lớn Đông Pha Tuyết Đường treo ở giữa nhà. Nay di tích nền nhà Tuyết Đường còn ở ngoài phía nam huyện Hoàng Cương, tỉnh Hồ Bắc.
[2] Đình Lâm Cao. Khi tác giả mới bị đầy đến Hoàng Châu, tạm trú trong chùa Huệ Thiền. Sư cụ chùa Huệ Thiền mời tác giả ra ở đình Lâm Cao cho tĩnh mịch. Nay đình Lâm Cao vẫn còn, ở phía Nam huyện Hoàng Cương, đi qua đình mới ra bến sông Trường Giang.
[3] Dốc Hoàng Nê ở huyện Hoàng Cương tỉnh Hồ Bắc. Ở đấy có bến sông Hoàng Giang, gọi là bến đò Hoàng Nê.
[4] Cá lô sông Tùng Giang. Sông Tùng Giang ở huyện Tùng Giang, tỉnh Giang Tô, có giống cá lô, mồm to vây nhỏ, có con dài đến 2 thước. Cuối mùa xuân cá lô theo nước thuỷ triều vào sông, đến mùa thu thì trở về biển nên mùa thu cá lô rất béo. Cá lô là sản phẩm của huyện Tùng Giang, tỉnh Giang Tô.
[5] Tên vị Thuỷ thần.
[6] Áo bằng lông chim. Sách Thập di ký: Đời Chiến Quốc, Yên Chiêu Vương mơ thấy một người mặc xiêm áo cánh loài chim xưng là Vũ nhân (thêm Hán tự) đến cùng vua giảng thuyết tiên thuật. Vì thế đời sau gọi đạo sĩ là vũ nhân.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Tô Thức » Hậu Xích Bích phú