04/12/2020 13:27Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Sóc phong thi
朔風詩

Tác giả: Tào Thực - 曹植

Thể thơ: Tứ ngôn; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Tam Quốc
Đăng bởi Vanachi vào 06/02/2014 13:16

 

Nguyên tác

仰彼朔風,
用懷魏都,
願騁代馬,
倏忽北徂。
凱風永至,
思彼蠻方,
願隨越鳥,
翻飛南翔。
四氣代謝,
懸景運周,
別如俯仰,
脫落三秋。
昔我初遷,
朱華未希。
今我旋止,
素雪云飛。
俯降千仞,
仰登天阻。
風飄蓬飛,
載離寒暑。
千仞易陟,
天阻可越,
昔我同袍,
今永乖別!
子好芳草,
豈望爾貽?
繁華將茂,
秋霜悴之。
君不垂眷,
豈云其誡?
秋蘭可喻,
桂樹冬榮。
絃歌蕩思,
誰與消憂?
臨川慕思,
何為汎舟?
豈無和樂,
遊非我鄰。
誰忘泛舟?
愧無榜人。

Phiên âm

Ngưỡng bỉ sóc phong,
Dụng[1] hoài Nguỵ đô[2],
Nguyện sính Đại[3] mã,
Thúc hốt bắc tồ.
Khải phong[4] vĩnh[5] chí,
Tư bỉ man phương[6],
Nguyện tuỳ Việt điểu[7],
Phiên phi nam tường.
Tứ khí[8] đại tạ[9],
Huyền cảnh[10] vận chu,
Biệt[11] như phủ ngưỡng,
Thoát lạc tam thu[12].
Tích ngã sơ thiên,
Chu hoa vị hy[13].
Kim ngã toàn chỉ,
Tố tuyết vân[14] phi.
Phủ giáng thiên nhận,
Ngưỡng đăng thiên trở.
Phong phiêu bồng phi,
Tải ly hàn thử.
Thiên nhận dị trắc,
Thiên trở khả việt,
Tích ngã đồng bào[15],
Kim vĩnh quai biệt!
Tử[16] hiếu phương thảo[17],
Khởi vọng nhĩ di?
Phồn hoa tương mậu,
Thu sương[18] tuỵ chi.
Quân bất thuỳ quyến,
Khởi vân kỳ giới?
Thu lan[19] khả dụ,
Quế thụ[20] đông vinh.
Huyền ca đãng tứ,
Thuỳ dữ tiêu ưu?
Lâm xuyên mộ[21] tứ,
Hà vi phiếm chu?
Khởi vô hoà nhạc,
Du phi ngã lân[22].
Thuỳ vong phiếm chu?
Quý vô bảng nhân[23].

Dịch nghĩa

Ngẩng đầu nhìn gió bắc,
Nhớ tới Nguỵ đô là Nghiệp Thành.
Mong được cưỡi ngựa đất Đại,
Chạy nhanh về phương bắc.
Gió nam từ xa thổi tới,
Lại nhớ tới đất Ngô ở phương nam.
Mong được theo chim Việt,
Bay về phương nam.
Bốn mùa khí tượng thay đổi khác nhau,
Mặt trăng, mặt trời vận chuyển tuần hoàn.
Từ khi rời xa, thoắt chốc như vừa ngẩng lên cúi xuống,
Mà đã qua hết ba tháng mùa thu.
Nhớ ngày ta vừa đi,
Hoa sen hồng vẫn còn chưa tàn.
Mà này ta trở lại,
Tuyết trắng đã bay khắp.
Cúi bước xuống vực sâu ngàn nhận,
Ngẩng trèo lên núi cao hiểm trở.
Gió thổi cỏ bồng phiêu giạt,
Bay qua biết bao mùa nóng lạnh.
Vực sâu ngàn nhận cũng dễ qua,
Núi cao hiểm trở cũng dễ vượt.
Chỉ thương rằng huynh đệ ta,
Nay đã mãi mãi xa nhau.
Người yêu thích thứ cỏ thơm,
Ta há có quên mang tặng?
Nhưng hoa dù đương tươi tốt,
Tới khi sương thu phủ xuống thì cũng phải tàn tạ.
Người dù không đoái hoài tới ta,
Nhưng lòng thành của ta nào có đổi thay?
Ví như lan mùa thu,
Như quế khi mùa đông vẫn tốt tươi.
Từ nay khi gảy đàn cất tiếng ca hát,
Biết cùng ai để tiêu sầu?
Khi bên sông cảm hứng dâng tràn,
Lại biết cùng ai chèo thuyền dạo chơi?
Đâu phải không có người cùng hoà ca,
Chỉ vì không có bạn tri âm mà thôi.
Ai quên việc cùng nhau dạo thuyền?
Chỉ tiếc không có người chèo.

Bản dịch của Điệp luyến hoa

Ngẩng nhìn gió bắc,
Nhớ tới Nghiệp Thành.
Mong ngựa Đại nhanh,
Thẳng phi mà tới.
Gió nam mãi thổi,
Nhớ đất Ngô xa.
Chim Việt giúp ta,
Theo về nơi đó.
Bốn mùa thay đổi,
Nhật nguyệt quay vòng.
Từ khi xa cách,
Thoắt mấy tháng ròng.
Nhớ khi ly biệt,
Vẫn thắm hoa hồng.
Mà nay trở lại,
Khắp trời tuyết bông.
Cúi ngàn vực thẳm,
Ngẩng ngàn núi cao.
Cỏ bồng gió cuốn,
Nóng lạnh dường bao.
Dễ qua vực thẳm,
Dễ vượt núi cao.
Chỉ lo huynh đệ,
Nay mãi xa nhau.
Người yêu cỏ ngát,
Há có quên trao?
Hoa dù tươi tốt,
Thu lại tàn phai.
Lòng người chẳng đoái,
Ta nào đổi thay?
Như lan thu nở,
Quế đông tốt tươi.
Gảy đàn ca hát,
Tiêu sầu với ai?
Bên sông đầy hứng,
Chèo chẳng có người?
Nào không tìm được,
Không tri âm thôi.
Dạo thuyền vẫn nhớ,
Nhưng đã xa rồi.
Bài này được tác giả làm năm Thái Hoà thứ 2 (228), khi từ Tuấn Nghi (nay ở phía bắc huyện Khai Phong, tỉnh Hà Nam) về lại Ung Khâu. Sau nhiều lần di chuyển các nơi khiến nảy sinh biết bao cảm khái trong lòng.

[1] Ở đây nghĩa là do đó, từ đó.
[2] Tức Nghiệp Thành. Mặc dù Nguỵ Minh Đế dời đô về Lạc Dương, nhưng Nghiệp Thành vẫn là một kinh đô của nhà Nguỵ. Ở đây ý nói tác giả nhớ về tiên đế Tào Tháo.
[3] Tức quận Đại, nay thuộc huyện Cao Dương, tỉnh Sơn Tây. Xưa ở đây sản sinh nhiều ngựa tốt. Sách "Hàn thi ngoại truyện" 韓詩外傳 đời Hán có câu "Đại mã y bắc phong, Việt điểu thê cố sào" 代馬依北風,飛鳥棲故巢, ý cũng tương tự câu "Hồ mã tê bắc phong, Việt điểu sào nam chi" trong "Cổ thi thập cửu thủ".
[4] Gió nam.
[5] Ở đây nghĩa là xa xôi (như viễn 遠).
[6] Tức phương nam, ở đây chỉ Thọ Xuân, là đất Ngô. Ở đây ý nói tác giả nhớ em là Tào Bưu, đương thời đang làm Ngô vương.
[7] Do câu Việt điều sào nam chi.
[8] Chỉ bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.
[9] Ý nói lần lượt thay đổi lẫn nhau.
[10] Chỉ mặt trời và mặt trăng.
[11] Chỉ việc tác giả dời Ung Khâu tới Tuấn Nghi năm Thái Hoà thứ nhất.
[12] Nghĩa là ba tháng mùa thu, nhưng ở đây chỉ có nghĩa phiếm định, ý nói xa cách lâu chứ không phải khoảng thời gian chính xác.
[13] Do chữ hy 稀.
[14] Từ trợ thanh, không mang nghĩa. Bốn câu này lấy ý từ bài "Thái vi" 采薇 trong "Thi kinh": "Tích ngã vãng hĩ, Dương liễu y y; Kim ngã lai tứ, Vũ tuyết phi phi" 昔我往矣,楊柳依依;今我來思,雨雪霏霏 (Khi xưa ta rời đi, Dương liễu phất phơ; Nay ta quay trở lại, Mưa tuyết hây hây), ý nói xa cách lâu ngày.
[] Hai câu ý nói tác giả phải trải qua bao khổ cực. Câu dưới lấy từ bài "Tiểu minh" 小明 trong "Thi kinh".
[15] Chỉ những người thân thuộc.
[16] Cùng với chữ "nhĩ" 爾, "quân" 君 ở các câu dưới đều chỉ Nguỵ Minh Đế là Tào Duệ 曹叡.
[17] Cỏ thơm, ở đây ví với lòng trung ái.
[18] Ám chỉ tiểu nhân.
[19, 20] Thu lan, quế thụ: tượng trưng cho các phẩm chất tốt đẹp.
[21] Có bản chép là 暮.
[22] Chỉ người thân thuộc luôn bên cạnh.
[23] Người chèo thuyền, ở đây chỉ huynh đệ.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Tào Thực » Sóc phong thi