19/10/2019 12:10Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Đề Nhị Trưng miếu
題二徵廟

Tác giả: Phan Trọng Mưu - 潘仲謀

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Cận đại
Đăng bởi Vanachi vào 19/12/2009 00:17

 

Nguyên tác

可憐六十五餘城,
盡下軍皆姊妹兵。
血戰決讎夫主義,
雄心不貴女王名。
銅梢故國情無限,
石化今身恨未平。
旺氣猶存千古在,
鬚眉回首淚空零。

Phiên âm

Khả lân lục thập ngũ dư thành,
Tận hạ quân giai tỉ muội binh.
Huyết chiến quyết thù phu chúa nghĩa,
Hùng tâm bất quý nữ vương danh.
Đồng tiêu[1] cố quốc tình vô hạn,
Thạch hoá[2] kim thân hận vị bình.
Vượng khí do tồn thiên cổ tại,
Tu mi hồi thủ lệ không linh.

Bản dịch (của Bản dịch của Trương Chính, Đinh Xuân Lâm)

Tiếc thay sáu chục lẻ năm thành,
Đều thuộc Hai Bà đóng nghĩa binh.
Huyết chiến trả thù chồng nghĩa liệt,
Hùng tâm rõ mặt đáng trung trinh.
Cột đồng nước cũ tình vô hạn,
Tượng đá khôn khuây hận chửa bình.
Linh khí vẫn còn trơ vạn thuở,
Râu mày ngoảnh lại luống buồn tênh.
Đền thờ Hai Bà ở làng Đồng Nhân, huyện Thanh Trì (nay là phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội).

Nguồn: Trương Chính, Đinh Xuân Lâm, "Ba bài thơ chữ Hán về Hà Nội," Tạp chí Hán Nôm, số tháng 1/1992
[1] Cột đồng Mã Viện (đời Hán) chôn ở vùng biên giới, sau khi đánh bại nghĩa quân Hai Bà, để ghi chiến công của mình.
[2] Theo truyền thuyết, Hai Bà khi thua trận đã nhảy xuống sông Hát tự trầm và đã hoá thành đá.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Phan Trọng Mưu » Đề Nhị Trưng miếu