31/07/2021 23:29Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Xuân hàn
春寒

Tác giả: Nguyễn Bỉnh Khiêm - 阮秉謙

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 16/07/2007 20:59

 

Nguyên tác

十二韶光春一團
一天料峭送餘寒
輕陰借雨侵花易
殘雪因風墜柳難
繡闥佳人低玉帳
香街醉客促金鞍
還建自有神功在
已播陽和滿祭繁

Phiên âm

Thập nhị thiều quang[1] xuân nhất đoàn,
Nhất thiên liệu tiễu tống dư hàn.
Khinh âm tá vũ xâm hoa dị,
Tàn tuyết nhân phong truỵ liễu nan.
Tú thát giai nhân đê ngọc trướng,
Hương nhai tuý khách xúc kim an[2].
Toàn kiền tự hữu thần công tại,
Dĩ bá dương hoà mãn tế bàn[3].

Dịch nghĩa

Mười hai thiều quang, một vừng xuân sắc,
Một ngày lành lạnh tiễn đưa cái rét còn lại.
Trời râm mát nhờ mưa dễ thấm vào bông hoa,
Tuyết tàn bị gió rơi xuống cành liễu.
Giai nhân trong phòng gấm rủ thấp màn ngọc,
Ngoài đường sực nức hoa thơm, khách say giục giã yên vàng.
Xoay chuyển càn khôn, tự có công phu thần diệu,
Đã gieo rắc khí dương hoà khắp cả trời đất.

Bản dịch của Lô Công

Xuân quang chín chục trải mười hai,
Đưa tiễn hơi dư lạnh một trời.
Ngày rợp mưa phùn hoa dễ thấm,
Tuyết tan gió phất liễu khôn rơi.
Nhà vàng người đẹp thầm buông trướng.
Phố vắng làng say vội giục roi,
Mầu nhiệm cơ thần xoay chuyển lại,
Dương hoà chan chứa khắp nơi nơi.
[1] Ánh sáng đẹp của mùa xuân. Cũng có nghĩa là ngày xuân "Thiều quang chín chục" là chín mươi ngày xuân. Ở đây "Mười hai thiều quang" tức là đã mười hai ngày xuân. Tác giả làm bài thơ này vào đầu xuân, tức ngày mười hai tháng Giêng, lúc còn rét nhưng đã sang xuân.
[2] Vì rét, khách làng say ở phố thơm (phố có giai nhân) cũng phải giục ngựa đi lanh, không thể khề khà thưởng thức được.
[3] Trang Tử có câu: "Thượng tế ư thiên, hạ bàn ư địa", nghĩa là: Trên rộng đến trời, dưới khắp cả đất. Sau người ta dùng gọn bốn từ "Tế thiên bàn địa" như là một thành ngữ. Ở đây, tác giả lại lược đi hai từ, chỉ còn hai từ "tế bàn" nhưng cần hiểu như nghĩa của cả câu "tế thiên bàn địa".

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Bỉnh Khiêm » Xuân hàn