26/05/2022 14:12Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Khí phụ thi
棄婦詩

Tác giả: Tào Thực - 曹植

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Tam Quốc
Đăng bởi Vanachi vào 07/02/2014 19:57

 

Nguyên tác

石榴植前庭,
綠葉搖縹青。
丹華灼烈烈,
璀采有光榮。
光榮曄流離,
可以處淑靈。
有鳥飛來集,
拊翼以悲鳴。
悲鳴夫何為?
丹華實不成。
拊心長嘆息,
無子當歸寧。
有子月經天,
無子若流星:
天月相終始,
流星沒無精。
棲遲失所宜,
下與瓦石并。
懮懷從中來,
嘆息通雞鳴。
反側不能寐,
逍遙於前庭。
踟躕還入房,
肅肅帷幕聲。
搴帷更攝帶,
撫弦調鳴箏。
慷慨有餘音,
要妙悲且清。
收淚長嘆息,
何以負神靈?
招搖待霜露,
何必春夏成。
晚獲為良實,
願君且安寧。

Phiên âm

Thạch lựu thực tiền đình,
Lục diệp dao phiêu thanh.
Đan hoa chước liệt liệt,
Thôi thái hữu quang vinh.
Quang vinh diệp lưu ly[1],
Khả dĩ xử thục linh[2].
Hữu điểu phi lai tập,
Phụ dực dĩ bi minh.
Bi minh phù hà vị?
Đan hoa thực[3] bất thành.
Phụ tâm trường thán tức,
Vô tử đương quy ninh[4].
Hữu tử nguyệt kinh thiên,
Vô tử nhược lưu tinh:
Thiên nguyệt tương chung thuỷ,
Lưu tinh một vô tinh.
Thê trì thất sở nghi,
Hạ dữ ngoã thạch tịnh.
Ưu hoài tòng trung lai,
Thán tức thông kê minh.
Phản trắc bất năng mị,
Tiêu dao ư tiền đình.
Trì trù hoàn nhập phòng,
Túc túc duy mạc thanh.
Khiên duy cánh nhiếp đới,
Phủ huyền điệu minh tranh.
Khảng khái hữu dư âm,
Yếu diệu bi thả thanh.
Thâu lệ trường thán tức,
Hà dĩ phụ thần linh[5]?
Chiêu Dao[6] đãi sương lộ,
Hà tất xuân hạ[7] thành.
Vãn hoạch[8] vi lương thực,
Nguyện quân[9] thả an ninh.

Dịch nghĩa

Cây thạch lựu trồng trong sân trước,
Lá xanh tươi nhẹ nhàng đu đưa.
Ra hoa màu đỏ như lửa,
Sắc rực rỡ lung linh.
Màu sắc như ngọc lưu ly toả ra,
Có thể là nơi loài vật thiêng trú ngụ.
Có chú chim bay tới đậu,
Vỗ cánh buồn hót.
Buồn hót bởi vì cớ gì?
Vì ra hoa đỏ mà không thành quả.
(Người vợ) vỗ bụng buồn rầu than thở,
Không có con nên bị đuổi về.
Có con như trăng sáng ngang trời,
Không con như sao mờ trôi qua.
Trăng sáng cùng trời trước sau chỉ có một cùng nhau,
Sao mờ trôi qua rồi lặn mất.
Sinh hoạt, ăn ở không được tuỳ nghi theo ý mình,
Thấp hèn như gạch ngói.
Nỗi ưu hoài cứ nối mãi không hết,
Than thở tới khi gà gáy sáng.
Trăn trở không ngủ được,
Dạo bước ra sân trước.
Bồi hồi lại trở về phòng,
Gió thổi vào màn phe phẩy.
Vén màn, thắt đai áo,
Gảy một điệu đàn tranh.
Âm thanh khảng khái không ngừng,
Vi diệu phát ra những tiếng buồn.
Thu lệ than thở hoài,
Vì cớ gì phụ lòng tốt của loài vật linh thiêng?
Cây quế đợi sương móc mùa thu mới ra quả,
Đâu nhất thiết phải ra phải vào mùa xuân, hạ.
Quả quế ra muộn thì ăn ngon,
Mong chàng hãy cứ an lòng.

Bản dịch của Điệp luyến hoa

Thạch lựu trồng sân trước,
Phe phẩy lá tươi xanh.
Hoa đỏ màu như lửa,
Rực rỡ ánh lung linh.
Lung linh như sắc ngọc,
Nơi trú ngụ loài thiêng.
Có chim bay tới đậu,
Vỗ cánh hót bi thương.
Buồn hót vì chi cớ?
Hoa đỏ, quả chẳng thành.
Vỗ bụng dài than thở,
Không con ở sao đành.
Có con như trăng tỏ,
Không con sao tối tăm:
Trăng sáng muôn đời một,
Sao mờ lặn mất nhanh.
Ăn ở không tuỳ ý,
Cùng gạch ngói sánh ngang.
Ưu hoài dằng dặc nối,
Suốt đêm trường thở than.
Trằn trọc không thành giấc,
Bước rảo ra trước sân.
Bồi hồi về phòng lại,
Gió thổi khẽ lay màn.
Vén màn, thắt dải áo,
Lên dây dạo khúc tranh.
Khảng khái âm không dứt,
Sầu bi thả tiếng đàn.
Thu lệ lòng tự hỏi,
Cớ sao phụ vật linh?
Quế đợi sương nặng xuống,
Đâu cứ xuân hạ thành.
Quả muộn là quả tốt,
Mong lòng chàng cứ an.
Bài thơ này được chép trong Ngọc đài tân vịnhThái bình ngự lãm. Nhạc phủ thi tập và tập thơ riêng của tác giả không thấy chép. Tào Thực thay lời người vợ của Bình lỗ tướng quân Lưu Huân 劉勳 là Vương Tống 王宋 vào cuối năm Kiến An vì không có con nên bị đuổi mà viết. Ngoài bài này, Tào Thực và Vương Xán 王粲 còn có bài Xuất phụ phú 出婦賦, Tào Phi cũng có hai bài Đại Lưu Huân xuất thê Vương thị tác 代劉勳出妻王氏作.

[1] Do chữ 琉璃, ngọc lưu ly.
[2] Chỉ chú chim được nhắc tới ở những câu sau. Thời xưa coi loan phượng là tinh của thần linh, nên thục linh tức chỉ chim. Trương Ngọc Cốc 張玉穀 đời Thanh nói chim thay lời cây mà nói, ý của chim tức là ý của cây vậy.
[3] Quả từ hoa kết thành, do chữ quả thực 果實, ở đây chỉ con (tử) ở câu dưới.
[4] Ý nói nàng dâu không có con bị đuổi về nhà bố mẹ đẻ. Thời xưa phụ nữ xuất giá có thất xuất, tức bảy điều nếu phạm sẽ bị đuổi về nhà bố mẹ đẻ, gồm: không con, dâm dật, không phụng dưỡng bố mẹ chồng, điêu ngoa, trộm cắp, ghen ghét, ác độc.
[5] Chỉ chú chim. Câu này ý nói chú chim buồn hót vì cây thạch lựu không ra quả, cũng là đồng cảm với ta không có con, ta khóc là đã phụ lòng tốt của chú chim thiêng.
[6] Chỉ cây quế. Nam hải kinh 南海經: “Chiêu Dao chi sơn đa quế” 招搖之山多桂 (núi Chiêu Dao có nhiều quế). Lã thị xuân thu 呂氏春秋: “Chiêu Dao chi quế, thực đại như tảo, đắc nhi thực chi, hậu thiên nhi lão” 招搖之桂,實大如棗,得而食之,後天而老 (quế núi Chiêu Dao, quả to như quả táo, nếu có mà ăn, về sau mãi chẳng già).
[7] Thạch lựu ra hoa kết quả vào khoảng hai mùa xuân, hạ.
[8] Chỉ quả ra muộn, ở đây tức quả quế, thường kết quả vào độ thu đông. Câu này ý nói người vợ sinh con muộn thì sẽ sinh con tốt.
[9] Chỉ người chồng.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Tào Thực » Khí phụ thi