02/03/2021 18:50Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Ký Lưu Giáp Châu Bá Hoa sứ quân tứ thập vận
寄劉峽州伯華使君四十韻

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 23/04/2015 23:21

 

Nguyên tác

峽內多雲雨,
秋來尚鬱蒸。
遠天朝白帝,
深水出彝陵。
遲暮嗟為客,
西南喜得朋。
哀猿勞起坐,
落雁失飛騰。
伏枕思瓊樹,
臨軒對玉繩。
青松寒不落,
碧海闊逾澄。
昔歲文為理,
群公價盡增。
家聲同令聞,
時論以儒稱。
太后當朝肅,
多才接跡昇。
翠虛捎魍魎,
丹極上鶤鵬。
宴引春壺酒,
恩分夏簟冰。
彫章五色筆,
紫殿九華燈。
學並盧王敏,
書偕褚薛能。
老兄真不墜,
小子獨無承。
近有風流作,
聊從月峽徵。
放蹄知赤驥,
捩翅服蒼鷹。
卷軸來何晚,
襟懷庶可憑。
會期吟諷數,
益破旅愁凝。
雕刻初誰解,
纖毫欲自矜。
神融躡飛動,
戰勝洗侵淩。
妙取筌蹄棄,
高宜百萬層。
白頭遺恨在,
青竹幾人登。
迴首追談笑,
勞歌跼寢興。
年華紛已矣,
世故莽相仍。
刺史諸侯貴,
郎官列宿應。
潘安雲閣遠,
黃霸璽書增。
乳贙號攀石,
饑鼯訴落藤。
藥囊親道士,
灰劫問胡僧。
憑久烏皮綻,
簪閒皁帽棱。
林居看蟻穴,
野食幸魚罾。
筋力交凋喪,
飄零免戰兢。
時為百里宰,
正似六安丞。
姹女縈新裹,
丹砂冷舊秤。
但求椿壽永,
莫慮杞天崩。
煉骨調情性,
張兵撓棘矜。
養生終自惜,
伐叛必全懲。
政術甘疏誕,
詞場愧服膺。
展懷詩誦魯,
割愛酒如澠。
咄咄寧書字,
冥冥欲避矰。
江湖多白鳥,
天地有青蠅。

Phiên âm

Giáp nội đa vân vũ,
Thu lai thượng uất chưng.
Viễn thiên triêu Bạch Đế,
Thâm thuỷ xuất Di Lăng[1].
Trì mộ ta vi khách,
Tây nam hỉ đắc bằng[2],
Ai viên lao khởi toạ,
Lạc nhạn thất phi đằng.
Phục chẩm tư quỳnh thụ,
Lâm hiên đối Ngọc Thằng[3].
Thanh tùng hàn bất lạc,
Bích hải khoát du trừng.
Tích tuế văn vi lý,
Quần công giá tận tằng.
Gia thanh đồng lệnh văn[4],
Thì luận dĩ nho xưng.
Thái hậu[5] đương triều túc,
Đa tài tiếp tích thăng.
Thuý hư[6] siếu võng mị,
Đan cực thướng côn[7] bằng.
Yến dẫn xuân hồ tửu,
Ân phân hạ điệm băng.
Điêu chương ngũ sắc bút,
Tử điện cửu hoa đăng.
Học tính Lư, Vương[8] mẫn,
Thư hài Trử[9], Tiết[10] năng.
Lão huynh chân bất truỵ,
Tiểu tử độc vô thăng (thừa).
Cận hữu phong lưu tác,
Liêu tòng nguyệt giáp trưng.
Phóng đề tri xích ký,
Bạt xí phục thương ưng.
Quyển trụ lai hà vãn,
Khâm hoài thứ khả bằng.
Hội kỳ ngâm phúng số,
Ích phá lữ sầu ngưng.
Điêu khắc sơ thuỳ giải,
Tiêm hào dục tự căng.
Thần dung niếp phi động,
Chiến thắng tẩy xâm lăng.
Diệu thủ thuyên đề khí,
Cao nghi bách vạn tằng.
Bạch đầu di hận tại,
Thanh trúc kỷ nhân đăng.
Hồi thủ truy đàm tiếu,
Lạo ca cục tẩm hưng.
Niên hoa phân dĩ hĩ,
Thế cố mãng tương nhưng.
Thứ sử chư hầu quý,
Lang quan liệt tú ưng.
Phan An[11] vân các viễn,
Hoàng Bá[12] tỉ thư tằng.
Nhũ huyễn hào phan thạch,
Cơ ngô tố lạc đằng.
Dược nang thân đạo sĩ,
Khôi kiếp vấn Hồ tăng[13].
Bằng cửu ô bì trán,
Trâm nhàn tạo mạo lăng.
Lâm cư khan nghị quật,
Dã tự hạnh ngư tăng.
Cân lực giao điêu táng,
Phiêu linh miễn chiến căng.
Thì vi Bách Lý[14] tể,
Chính tự Lục An[15] chưng.
Xá nữ oanh tân khoả,
Đan sa lãnh cựu xưng.
Đãn cầu xuân thọ vĩnh,
Mạc lự Kỷ thiên băng[16].
Luyện cốt điều tình tính,
Trương binh nạo cức căng.
Dưỡng sinh chung tự tích,
Phạt bạn tất toàn trừng.
Chính thuật cam lưu đản,
Từ trường quỹ phục ưng.
Triển hoài thi tụng Lỗ[17],
Cát ái tửu như Thằng[18].
Đốt đốt[19] ninh thư tự,
Minh minh dục tị tăng.
Giang hồ đa bạch điểu[20],
Thiên địa hữu thanh nhăng.

Dịch nghĩa

Trong kẽm mây mưa nhiều,
Mùa thu tới rồi mà còn nóng bức.
Buổi chiều nơi Bạch Đế trời xa xa,
Nước sâu hiện bóng Di Lăng.
Buổi chiều tàn than thân làm khách xứ này,
Phía tây nam mừng gặp bạn.
Vượn đau khổ khó mà ngồi yên,
Nhạn lạc bày bay nhớn nhác.
Nằm nhớ đến những cây quỳnh (bạn quý),
Tới bên cửa sổ nhìn thấy sao Ngọc Thằng.
Cây tùng xanh gặp lạnh mà không rụng,
Biển biếc rộng bát ngát trong.
Năm trước trong kì bình văn,
Các ông có giá trị tới từng cao tột.
Danh giá của gia đình nghe vang dội.
Thời đó đã đều cho là bậc túc nho.
Bà mẹ vua nghiêm trang nơi triều,
Nhiều người tài theo vết đó bước lên giúp việc.
Nơi khoảng trống xanh mờ sạch bóng quỷ võng mị,
Thềm đỏ con chim côn và chim bằng tiến tới.
Yến tiệc dâng bầu rượu ngon,
Mùa hạ, ơn chia đều được ngồi chiếu tẩm băng.
Viết văn có bút năm mầu,
Nơi điện tía có đèn hoa cúc.
Tài học thâm sâu như Lư và Vương,
Vẽ đều khéo như Trử Toại Lang và Tiết.
Ông anh thật không bị sa sảy,
Tôi đây phận bé nhỏ không chỗ nào len.
Gần đây học đòi thói phong lưu.
Nên theo trăng ngay cạnh kẽm.
Có tung vó mới hay tài ngựa ký đỏ.
Có bị gãy cánh mới chịu thua sức chim ưng xanh.
Cứ theo sách vở thì quá chậm trễ,
Cái hoài bão của mình mới là điều cậy trông.
Lần gặp gỡ ta cứ ca ngâm một vài,
Để phá tan hết cái nỗi buồn xa nhà còn đọng lại.
Vết hằn khắc trong lòng ai là người gỡ hộ,
Nỗi lòng sâu kín chỉ biết tự thương.
Thần lửa bay lén theo sát phía sau,
Thắng trận rửa sạch việc lấn chiếm.
Khéo nắm lại cái mục tiêu đã bị xao lãng,
Mà xứng đáng đưa nó lên tới trăm vạn tầng cao.
Đầu bạc rồi mà mối hận còn đó,
Tên ai sẽ được ghi trên sử xanh.
Suy nghĩ lại về những lời dị nghị,
Ca hát để xoa dịu những lúc chìm nổi éo le.
Tuổi trẻ vốn đã rối bời,
Mà sợ đời lại cứ phải đa mang.
Chức thứ sử vẫn được các ông chủ vùng quý trọng,
Danh vị quan lang vẫn được trăm sao ham muốn.
Chàng Phan An xa gác mây,
Hoàng Bá có nhiều chồng văn thư.
Con chồn non bò kêu trên đá,
Con sóc bay đói cằn nhằn bờ dây leo.
Túi đựng thuốc quen với đạo sĩ,
Kiếp tro xin hỏi sư xứ Hồ.
Ngồi dựa mãi ghế da đen (như quạ) sẽ mòn rách,
Trâm ít dùng đến thì mũ trắng cao vòi vọi.
Ở trong rừng thấy tổ kiến,
Ăn nơi đồng ruộng may có lưới bắt cá.
Gân sức đều đã rã rời cả rồi.
Sống lênh đênh thì khỏi lo đau đáu.
Có khi làm quan cầm đầu châu Bách Lý,
Lại giống hệt người cầm quyền châu Lục An.
Thuốc luyện bằng thuỷ ngân nằm trong bao mới,
Đan sa nguội nơi cân cũ.
Đã cầu cho cây xuân sống mãi,
Thì chớ lo trời nước Kỷ sập.
Rèn luyện xương để cho tình tính được điều hoà,
Bành trướng quân đội thì chỉ làm phiền tới cán dáo thôi.
Cuối cùng, việc di dưỡng đời sống chỉ mang tới việc tự tiếc nuối,
Đánh kẻ phản loạn là phải trị tận gốc.
Cái cách cai trị dân mà dám nói láo từ đầu tới cuối,
Trong giới văn chương e thẹn về việc ghi nhớ trong lòng.
Để phát huy cái trong lòng là thơ, hãy nghiền ngẫm nước Lỗ,
Ham thứ thích nhất là rượu thì uống như nước sông Thằng.
Sao lại viết chữ đốt đốt,
Trong cảnh mịt mờ tìm cách né tên bay đạn lạc.
Nơi chốn sông hồ, có nhiều chim trắng,
Trong trời đất lại có ruồi xanh.

Bản dịch của Phạm Doanh

Trong vùng kẽm, mây mưa quá đỗi,
Khi thu về thêm nỗi bức oi.
Trời xa, Bạch Đế chiều rồi,
Nước sâu bóng Di Lăng thời hiện ra
Làm thân khách khi già thấy khổ,
Về tây nam mừng có bạn thân.
Vượn rầu quanh quất kêu than,
Nhớn nhác chim nhạn lạc đàn bơ vơ.
Ốm đau nằm mà mơ cây ngọc,
Cửa sổ nhòm thẳng góc ngọc thằng.
Thông xanh không rụng mùa đông,
Bể biếc bát ngát một vùng lăn tăn.
Nhớ năm trước bình văn gặp hội,
Danh các ông đã nổi bên trên.
Nhà tôi danh tiếng cũng liền,
Người đời xưng tụng bậc hiền túc nho.
Khi thái hậu đứng lo việc nước,
Bao người tài đều được mời ra.
Nơi thâm sâu, sạch quỉ ma,
Côn, bằng tới đậu sa đà thềm vua.
Xuân, bầu rượu tiệc đưa tiếp đãi,
Hạ, chiếu băng ngồi đội ơn sâu.
Soạn văn bút có năm mầu,
Đèn hoa cúc, điện tía cao treo đầy.
So Lư, Vương, sánh tày chăm chỉ,
Ngang Trử, Tiết viết vẽ tài hoa.
Ông anh danh thật chẳng nhoà,
Thân tôi vò võ chẳng qua cửa nào.
Gần đây thói phong lưu thử sống,
Bèn theo trăng ngay vũng kẽm này.
Vó tung, ngựa ký mới hay,
Ưng xanh gãy cánh tài bay mới tường.
Theo sách vở vẫn thường quá trễ,
Lý tưởng kia đáng để mà noi.
Gặp nhau ngâm vịnh một vài,
Sầu xa quê mới có hồi tan cho.
Vết hằn nọ biết nhờ ai gỡ,
Chút riêng tư thôi chỉ tự thương.
Thần lửa bay sát sau lưng,
Thắng trận sửa tội xâm lăng rất nhiều.
Khéo mang lại mục tiêu bỏ lỡ,
Trăm vạn tầng nơi đó đáng treo.
Bạc đầu nỗi hận còn đeo,
Trúc xanh ai kẻ được nêu tên rồi.
Suy nghĩ lại những lời xỉa xói,
Đem lời ca an ủi chìm, ngoi.
Tuổi trẻ vốn đã rối bời,
Thế mà lẽo đẽo việc đời cứ mang.
Thứ sử, chư hầu thường quí trọng,
Lang quan nhiều kẻ ngóng được làm.
Gác mây xa cách Phan An,
Hoàng Bá bao tập công văn xếp đều.
Con sói non bò kêu trên đá,
Sóc đói lòng sỉ vả dây đằng.
Cầu đạo sĩ về thuốc thang,
Ngày tận thế, hỏi Hồ tăng tro tàn.
Ghế đen dựa mãi sờn da mỏng,
Trâm ít cài mũ trắng nghênh ngang.
Ở rừng thấy tổ kiến càng.
Ăn ruộng may có lưới giăng cá đồng.
Gân với sức đều cùng suy thoái,
Kiếp lênh đênh tránh khỏi lo âu.
Có hồi Bách Lý cầm đầu,
Y hệt như Lục An châu tiếp quyền.
Trong túi mới thuỷ ngân lóng lánh,
Thuốc đan sa thấm lạnh trên cân.
Xin cầu sống mãi cây xuân,
Trời Kỷ không sập đâu cần phải lo.
Luyện gân cốt để cho tính dịu,
Cán dáo mòn hứng chịu dàn quân.
Dưỡng sinh rốt cục ăn năn,
Dẹp loạn phải kiếm nguyên nhân mà trừ.
Việc trị dân khư khư nói láo,
Chốn văn chương ngượng ngạo phục tòng.
Cứ ngâm thơ Lỗ thoả lòng,
Riêng ham nốc rượu như sông Thằng mà.
Sao viết chữ ''chà chà", lên thế,
Mịt mù tìm cách né tên bay.
Sông hồ chim trắng có đầy
Ruồi xanh trời đất cả bầy vo ve.
(Năm 767)

[1] Đất thuộc huyện Nghi Xương, Hồ Bắc. Xưa là nơi lăng mộ vua Sở. Khi Tần diệt Sở, tướng nhà Tần là Bạch Khởi đã đốt trụi vùng này.
[2] Kinh dịch, quẻ Khôn, lời quẻ: Tây nam đắc bằng.
[3] Sao đứng thứ năm trong bảy sao của chòm Bắc Đẩu.
[4] Lưu Bá Hoa là cháu nội của Lưu Doãn Tế 劉允濟 mà ông này là bạn của Vương Bột, và cùng làm quan với Đỗ Thẩm Ngôn, ông nội của Đỗ Phủ.
[5] Võ Tắc Thiên.
[6] Cung vua.
[7] Côn kê, tức phượng hoàng.
[8] Lư Chiếu Lân và Vương Bột.
[9] Trử Toại Lang (596-658) tự là Đăng Thiện 登善, người Tiền Đường (Hàng Châu, Chiết Giang). Ông là người am hiểu văn học, thư pháp nhất là lối khải, lệ. Thời Đường Thái Tông giữ chức gián nghị đại phu, cùng với Trường Tôn Vô Kị được vua trước uỷ nhiệm di chúc. Khi Cao Tông lên ngôi, giữ chức thượng thư tả bộc xạ, phong làm Hà Nam quận công. Vua định bỏ hoàng hậu để lập Võ Tắc Thiên, ông cố gắng bài bác, lui về ở ẩn. Bị biếm đi giữ chức chế sứ ở Ái Châu, rồi buồn bực mà chết.
[10] Tiết Tắc, nhà thư pháp kiêm hoạ sĩ, tự Tự Thông 嗣通, người Bồ Châu, Phần Âm (nay là Vạn Vinh, Sơn Tây). Sau bị ép chết trong ngục. Là học trò của Trử Toại Lang.
[11] Hay Phan Nhạc 潘岳, tự An Nhân 安仁, bảnh trai, ra đường gái chạy theo chiêm ngưỡng, lấy hoa quả ném vào xe ông đang đi để trêu ghẹo. Giỏi văn từ, nhất là văn tế điếu nơi tang lễ. Sau bị Tôn Tú 孫秀 (thái tử Đông Ngô) vu là làm phản, nên cả gia tộc bị giết.
[12] Một nhà hành chính có tài đời Hán, người Dương Hạ, tự là Thứ Công.
[13] Người Ấn Độ xưa, theo đạo Bà-la-môn cho rằng thế giới vào lúc tận diệt, thì có xuất hiện tro tàn.
[14] Tên một châu thuộc Chi Giang, Hồ Bắc.
[15] Tên một huyện thuộc Hợp Phì, An Huy. Truyện Hoàn Đàm 桓譚 dùng câu sấm để can gián vua Quang Vũ, nên bị đổi làm viên thừa ở Lục An. Hoàn Đàm tự Quân Sơn 君山 người thời Đông Hán, thông hiểu ngũ kinh.
[16] Do câu "Kỷ nhân ưu thiên" 杞人憂天, người nước Kỷ lo trời sập. Trong bài, chữ Kỷ dùng với ý nghĩa là cây kỷ, để đối với cây xuân thuộc câu trên.
[17] Các sách như tứ thư, ngũ kinh của nước Lỗ, quê hương Khổng Tử.
[18] Bắt nguồn từ Lâm Truy, Sơn Đông, phía tây bắc thành cổ nước Tề. Tác giả tự chú: Trong đời ham lắm, nhưng bị bệnh tiểu đường, nên phải kiêng.
[19] Ân Hạo 殷浩 đời Tấn chán nản việc đời, cứ lấy tay viết bốn chữ "Đốt đốt quái sự" 咄咄怪事 (Chà chà chuyện lạ) trong không trung, tỏ ý bất mãn một cách tiêu cực.
[20] Theo Đại đới lễ, đan điểu, tức đan lương (đom đóm) dâng đồ ăn cho bạch điểu (chim trắng, tức muỗi mòng). Bất kể hễ có cánh là liệt vào loại chim.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Ký Lưu Giáp Châu Bá Hoa sứ quân tứ thập vận