18/09/2020 22:36Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Phạm Ngũ Lão ngoại quán
范五老外貫

Tác giả: Nguyễn Tông Lan

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
Đăng bởi tôn tiền tử vào 31/12/2019 22:03

 

Nguyên tác

征蠻范帥回觀此,
取妾良緣有自天。
山下青苔封一廟,
世間固說歷千年。
碑文黎將行行字,
故邑陳人簇簇連。
至午樹中煙火熾,
往來到市北南船。

Phiên âm

Chinh man Phạm suý hồi quan thử,
Thủ thiếp lương duyên hữu tự thiên.
Sơn hạ thanh đài phong nhất miếu[1],
Thế gian cố thuyết lịch thiên niên.
Bi văn Lê tướng hàng hàng tự,
Cố ấp Trần nhân thốc thốc liên.[2]
Chí ngọ thụ trung yên hoả sí,
Vãng lai đáo thị bắc nam thuyền.

Dịch nghĩa

Đi đánh quân Man khi Phạm suý về qua mảnh đất này,
Lấy người thiếp do duyên lành tất cũng tự trời.
Nay dưới núi còn một ngôi miếu rêu xanh,
Người đời nơi đó đã trải qua hàng ngàn năm.
Văn bia nói vị tướng họ Lê có chữ từng hàng,
Làng cũ của người họ Trần nhà nhà liên tiếp.
Trưa rồi chỗ nào cũng thấy khói bếp lên trong đám cây xanh,
Thuyền qua lại đến chợ của người phương nam đất bắc.

Bản dịch của Dương Văn Vượng

Đánh man, Phạm suý tới đây
Được người thiếp giỏi duyên may trời giành
Chân non miếu cổ rêu xanh
Ngàn năm thờ tự nêu danh chốn này
Tướng Lê bia đá chữ đầy
Họ Trần làng đó cỏ cây liền nhà
Trưa rồi khói bếp lan ra
Bắc Nam thuyền khách lại qua dập dìu
Nguồn: Hồ Đức Thọ, Dương Văn Vượng, Thi tuyển danh sĩ Hà Nam, Sở Văn hoá thông tin tỉnh Hà Nam, 1999
[1] Nguyên chú: Đền thuộc xã Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, phủ Lị Nhân, thờ Trần triều Phạm điệu suý công và Đệ nhị phu nhân Thuỷ Tinh công chúa tôn thần. Bà mất ngày mồng 2 tháng Giêng năm Đại Trị đầu (1358), an táng tại cồn đất phía nam núi Nhạn Tập. Ngày kỵ Phạm Ngũ Lão mồng 10 tháng 11 năm Canh Thân (1320).
[2] Trần Oánh là con Trần Lựu, tướng thời Lê, cùng mẹ đẻ là Phạm Thị Hương đến đây lập nghiệp. Khoảng tháng 5 năm Bính Ngọ (1426) mẹ con bà đưa 6 gia đình gồm hơn 40 người từ Kiện Khê về xã Dương Xá, huyện Mỹ Lộc, phủ Thiên Trường lập tân trại.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Tông Lan » Phạm Ngũ Lão ngoại quán