25/09/2021 01:09Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Sùng Nghiêm sự Vân Lỗi sơn Đại Bi tự
崇嚴事雲磊山大悲寺

Tác giả: Phạm Sư Mạnh - 范師孟

Thể thơ: Tản văn; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Trần
Đăng bởi Vanachi vào 14/09/2008 21:27

 

Nguyên tác

夫:
二儀有像,顯覆載以含靈生,
四時無形,潛寒署以化物。
爰以:
窺天監地,庸愚皆識其端;
明陰問陽,賢哲罕窮其數。
然而:
天地包乎陰陽,而易識者,以其有象也;
陰陽處乎天地,而難窮者,以其無形也。
故知:
像顯可徵,雖愚不惑;
潛形莫睹,在智猶迷。
況乎:
佛道崇虛,乘虛控寂。
今住持大和尚:
隱林一冥,捨親出家。為護庇住持慶林事事有詔命紀年矣。則乘興遊方,見雲磊山,四方鬱茂,其心可玩,則開山鑿石,建立數庵,塑三世一部,大悲一部全金,置于亭山。寅昏禱祝,皇圖鞏固,天下太平,聖躬萬歲。
念:
其東有眾落,陸離屋舍,可為豪家之富貴;
其南挹長江出大海之口,可為世界之溟茫。
其西有涇,脈絡透到摩尼山大利鄉,可為郡縣之壯觀;
其北有大路引出神頭之海口,可為去來之佳宿。
正以四方為界,鎮於雲磊山,山之主也。今有荒土,鹹水腳山,有當而有餘;東近小陌,溪山出水為界;西取尾山,底處聚人為界。流通常住三寶,以養眾僧,補助莫留頹壞。謹述鄙懷,茲紀其日月,故立石刻銘曰:

雲磊之山,
庵在江邊。
建立之人,
行解俱全。
恩及存亡,
福廕千年。
大悲垂慈,
救度眾生。
上引迷途,
下濟含靈。
人人欣悅,
處處聞聲。
妙道凝玄,
莫知其際。
晦影歸真,
遷儀越世。
金容掩色,
現出光麗。
山神擁護,
檀那供施。
寅昏不絕,
富家萃至。
斯序斯銘,
刻為國瑞。

紹變三年壬子歲二月右僕射硤石范師孟謹述祇侯首枚省書。

捫參歷井上雲端,
身在碧霄銀漢間。
下視鯨濤千萬里,
長天浮水水浮山。

有僕射硤石范師孟亞義。

Phiên âm

Phù:
Nhị nghi hữu tượng, hiển phúc tải dĩ hàm linh sinh;
Từ thời vô hình, tiềm hàn thử dĩ hoá vật.
Viên dĩ:
Khuy thiên giám địa, dong ngu giai thức kỳ đoan;
Minh âm vấn dương, hiền triết hãn cùng kỳ số.
Nhiên nhi:
Thiên địa bao hồ âm dương, nhi dị thức giả, dĩ kỳ hữu tượng dã;
Âm dương xử hồ thiên địa, nhi nan cùng giả, dĩ kỳ vô hình dã.
Cố tri:
Tượng hiển khả trưng, tuy ngu bất hoặc;
Tiềm hình mạc đổ, tại trí do mê.
Huống hồ:
Phật đạo sùng hư, thừa hư không tịch.
Kim trụ trì đại hoà thượng:
Ẩn lâm nhất minh, xả thân xuất gia. Vị hộ tý trụ trì Khánh lâm sự sự hữu chiếu mệnh kỷ niên hỹ. Tắc thừa hứng du phương. Kiến Vân Lỗi sơn, tứ phương uất mậu, kỳ tâm khả ngoạn, tắc khai sơn tạc thạch, kiến lập sổ am, tố Tam Thế nhất bộ, Đại Bi nhất bộ toàn kim, trí vu đình sơn. Dần hôn đảo chúc, hoàng đồ củng cố, thiên hạ thái bình, thánh cung vạn tuế.
Niệm:
Kỳ đông hữu tụ lạc, lục ly ốc xá, khả vi hào gia chi phú quí;
Kỳ nam ấp trường giang xuất đại hải chi khẩu, khả vi thế giới chi minh mang.
Kỳ tây hữu Kinh, mạch lạc thấu đáo Ma Ni sơn, Đại Ly hương, khả vi quận huyện chi tráng quan;
Kỳ bắc hữu đại lộ dẫn xuất Thần Đầu chi hải khẩu, khả vi thứ lai chi giai túc.
Chính dĩ tứ phương vi giới, trấn ư Vẫn Lỗi sơn, sơn chi chủ dã. Kim hữu hoang thổ, hàm thuỷ cước sơn, dụng đáng nhi hữu dư; đông cận tiểu mạch, Khê Sơn xuất thuỷ vi giới; tây thủ Vỹ Sơn, để xứ tụ nhân vi giới. Lưu thông thường trụ tam bảo, dĩ dưỡng chúng tăng, bổ trợ mạc lưu đồi hoại. Cẩn thuật bỉ hoài, tư kỷ kỳ nhật nguyệt, cố lập thạch khắc minh viết:

Vân Lỗi chi sơn,
Am tại giang biên.
Kiến lập chi nhân,
Hạnh giải câu toàn.
Ân cập tồn vong,
Phúc ấm thiên niên.
Đại Bi thuỳ từ,
Cứu độ chúng sinh.
Thượng dẫn mê đồ,
Hạ tế hàm linh.
Nhân nhân hân duyệt,
Xứ xứ văn thanh.
Diệu đạo ngưng huyền,
Mạc tri kỳ tế.
Hối ảnh qui chân,
Thiên nghi việt thế.
Kim dung yểm sắc,
Hiển xuất quang lệ.
Sơn thần ủng hộ,
Đàn na cúng thí.
Dần hôn bất tuyệt,
Phú gia tuỵ chí.
Tư tự tư minh,
Khắc vi quốc thuỵ.

Thiệu Biến tam niên Nhâm Tý tuế nhị nguyệt hữu bộc xạ Hiệp Thạch Phạm Sư Mạnh cẩn thuật kỳ hầu thủ mai tỉnh thư.

Môn Sâm lịch Tỉnh Thướng vân đoan,
Thân tại bích tiên Ngân Hán gian.
Hạ thị kình đào thiên vạn lý,
Trường thiên phù thuỷ, thuỷ phù san.

Hữu bộc xạ Hiệp Thạch Phạm Sư Mạnh á nghĩa.

Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Ôi:
Đất trời có tượng, tỏ chở che để nuôi dựng muôn linh;
Thời tiết không hình, ngầm nóng lạnh để hoá thành vạn vật.
Vì thế cho nên:
Ngó nhòm trời đất, kẻ cung phàm đều biết được mối manh;
Tra xét âm dương, bậc thánh triết hiếm nay cùng vận số.
Thế nhưng:
Đất trời chứa đựng âm dương, mà dễ hiểu, là vì có tượng;
Hai khí ở trong trời đất, mà khó hay, là bởi không hình.
Cho nên mới biết:
Tượng rõ dễ hay; tuy ngu chẳng rối;
Hình ngầm khó thấy, dẫu trí còn mê.
Phương chi:
Đạo Phật chuộng hư, cưỡi "không" ngự "tịch".
Nay trụ trì đại hoà thượng:
Ẩn tích non rừng, lìa nhà tu đạo, để giúp đỡ việc trụ trì chùa Khánh Lâm, đã có chiếu mệnh ghi rõ năm tháng. Nhân đó sư thừa hứng du ngoạn nhiều nơi, thấy non Vân Lỗi, bốn bề sầm uất, trong lòng ưa thích, sư bèn mở núi bạt rừng, xây dựng vài am, đúc pho Tâm Thế, cùng tượng Đại Bi, toàn bằng vàng thực, đặt ở đỉnh non, sớm chiều cầu khấn: hoàng đồ bền vững, thiên hạ thái bình, đức vua muôn tuổi.
Sư nghĩ nơi đây:
Đông có xóm làng, cửa nhà đông đúc, có thể làm nơi chung đỉnh của hào gia;
Nam gần sông lớn, chảy tới biển khơi, có thể làm chốn mênh mông cho thế giới.
Tây có sông Kinh, len lỏi tới hương Đại Ly, núi Ma Ni, có thể làm cảnh tráng quan cho các vùng quận huyện;
Bắc kề đường lớn, ăn thông tới Thần Đầu hải khẩu, có thể làm nơi nghỉ tốt cho kẻ lại người qua.
Đúng là dùng bốn phía làm giới phong, đứng trấn ở non Vân Lỗi, vì non này là chủ các non. Nay có đất hoang, chân non sát liền nước mặn, thường sử dụng còn thừa, đông gần đường nhỏ, lấy nguồn nước Khê Sơn làm giới hạn, tây giáp Vỹ Sơn, lấy chốn họp đông người làm giới hạn. Việc lưu thông thường ở nhà chùa, để nuôi tăng, cho tu bổ lại không để đổ nát. Tôi kính cẩn giải lời quê vụng, ghi lại tháng năm, cho nên dựng bia và khắc bài minh này:

Kề non Vân Lỗi,
Am cỏ bên sông.
Con người xây dựng,
Giới tuệ viên thông.
Kẻ sống người chết,
Ngàn năm phúc chung.
Chúng sinh cứu vớt.
Từ bi rủ lòng,
Bến mê dẫn đặt.
Muôn loài qua sông,
Mọi người hớn hở,
Khắp chốn ngông trông.
Đạo huyền sâu lắng,
Bờ bến khôn cùng.
Đổi hình lánh tục,
Khuất bóng về "không"
Nét vàng mờ sắc,
Hiện ra huy hoàng.
Thần non hộ vệ,
Thí chủ cúng dâng.
Sớm chiều không ngớt,
Tấp nập giầu sang.
Minh này tựa ấy,
Ghi làm sử vàng.

Trèo mây tay với trăng sao,
Thân nơi sông Bạc tầng cao xanh mờ.
Cúi nhìn muôn dặm sóng xô,
Nước lưng trời thẳm, non phô mặt duềnh.
Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Phạm Sư Mạnh » Sùng Nghiêm sự Vân Lỗi sơn Đại Bi tự