21/10/2021 02:00Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Hàn Tín
韓信

Tác giả: Thái Thuận - 蔡順

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
Đăng bởi Hà Như vào 01/07/2010 22:00

 

Nguyên tác

四海干戈正擾攘,
力能平定獨君當。
齋壇禮重將君拜,
盟府功多敵國王。
楚地無心圖鼎立,
漢天有淚泣弓藏。
後來說到南巡事,
應為王孫一斷腸。

Phiên âm

Tứ hải can qua chính nhiễu nhương,
Lực năng bình định độc quân đương.
Trai đàn[1] lễ trọng tương quân bái,
Minh phủ[2] công đa địch quốc vương.
Sở địa vô tâm đồ đỉnh lập[3],
Hán thiên hữu lệ khấp cung tàng[4].
Hậu lai thuyết đáo nam tuần[5] sự,
Ưng vị Vương Tôn[6] nhất đoạn trường.

Dịch nghĩa

Bốn biển nổi can qua, chính là lúc rối ren nhất đời,
Chỉ một mình chàng đủ sức cáng đáng việc bình định.
Dựng trai đàn làm lễ bái tướng, lễ thật long trọng,
Nơi minh phủ ghi công diệt thù, công thật là nhiều.
Không lòng mưu đồ lập đỉnh ở nước Sở,
Khoảng trời Hán có lệ khóc chôn cung.
Về sau nói đến chuyện Nam tuần,
Phải vì Vương Tôn mà đứt từng khúc ruột.

Bản dịch của Quách Tấn

Lửa binh bừng dậy khắp tây đông,
Dẹp loạn riêng ai sức vẫy vùng.
Bái tướng trai đàn cao ngất lễ,
Diệt thù minh phủ chất đầy công.
Hững hờ đất Sở lòng xây đỉnh,
Sùi sụt trời Lưu lệ khóc cung.
Câu chuyện Nam tuần khi nhắc đến,
Vì Vương Tôn những xót xa lòng.
Nguồn: Thái Thuận, Lữ Đường thi, Quách Tấn tuyển dịch, NXB Văn học, 2001, trang 113
[1] Khi trao binh quyền cho Hàn Tín, Hán vương lập đàn bái tướng rất long trọng.
[2] Phủ để làm lễ tuyên thệ.
[3] Ly khai, lập đỉnh riêng. Đỉnh tượng trưng cho uy quyền của một cõi. Nhà Chu đúc chín đỉnh đồng tượng trưng cho chín châu, tức toàn cõi Trung Quốc nên lập đỉnh là chỉ lập nước riêng, lên ngôi hoàng đế.
[4] Do chữ “Điểu tận cung tàng” (Chim hết, cung vùi).
[5] Chuyến đi tuần phương Nam của Hán Cao Tổ; mục đích để cho Lữ Hậu giết Hàn Tín tại Trường An.
[6] Mỹ danh của Hàn Tín.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Thái Thuận » Hàn Tín