28/01/2022 10:16Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Thố viên 1
兔爰 1

Tác giả: Khổng Tử - 孔子

Thể thơ: Kinh thi; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Chu
Đăng bởi Vanachi vào 02/10/2005 09:22

 

Nguyên tác

有兔爰爰,
雉離于羅。
我生之初,
尚無為。
我生之後,
逢此百罹。
尚寐無吪。

Phiên âm

Hữu thố viên viên
Trĩ lệ vu la.
Ngã sinh chi sơ,
Thượng vô ngoa (vi).
Ngã sinh chi hậu,
Phùng thử bách la (ly).
Thượng mỵ vô ngoa.

Dịch nghĩa

Có con thỏ (vì giảo quyệt, thoát khỏi lưới) thung dung thư thả.
Con chim trĩ (vì chính trực) mắc vào lưới.
Đầu đời của ta sống.
(Thiên hạ) còn vô sự.
Cuối cuộc đời ta sống,
Thì gặp (lúc biến loạn) trăm nỗi lo âu.
(Ta chẳng làm sao được) chỉ mong ngủ yên không động đậy.

Bản dịch của Tạ Quang Phát

Thỏ xảo quyệt thung dung vừa thoát,
Trĩ thẳng ngay lại mắc lưới rồi.
Ban đầu ta mới ra đời,
Thì đều vô sự thảnh thơi an nhàn.
Sống phần cuối đời tàn cho dứt
Gặp trăm điều khổ cực ưu lo
Mong sao một giấc ngủ khò.
Chú giải của Chu Hy:

Chương này thuộc tỷ.

thố: con thỏ, tính xảo quyệt.
viên viên: ý thung dung thư thả.
trĩ: chim trĩ, tính thẳng thắn.
lệ: phụ vào, mắc vào.
thượng (ở câu 4): còn.
ly (đọc la): ưu lo.
thượng (câu 7): ngõ hầu mong.
ngoa: động.

Nhà Chu suy hèn, chư hầu bội phản, người quân tử không vui sống, mới làm bài thơ này. Nói rằng: giăng lưới bắt thỏ, nay thỏ xảo quyệt tinh ranh thoát được, còn chim trĩ, trái lại, tính thẳng thắn bị mắc vào lưới để ví rằng: đứa tiểu nhân gây nên biến loạn, nhờ mưu kế xảo trá mà thoát khỏi, còn người quân tử không có tội gì, lại vì tính trung trực mà mắc tai hoạ.

Người làm bài thơ này, vì đã thấy được sự cường thịnh của Tây Chu, cho nên nói rằng: vừa đầu đời ta sinh ra, thiên hạ còn vô sự, đến cuối đời ta sống, thì gặp lúc nhiều tai nạn như thế. Nhưng đã không làm gì được, thì chỉ mong ngủ yên không động đậy để chết luôn đi thôi.

Hoặc lấy chương này thuộc hứng, lấy việc con thỏ thư thả thung dung để khởi hứng sự an nhàn, lấy việc con trĩ bị mắc vào lưới để khởi hứng đời biến loạn lắm việc lo âu.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Khổng Tử » Thố viên 1