16/10/2021 18:49Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Vịnh hoài

Tác giả: Ngô Thế Lân - 吳世鄰

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Nguyễn
Đăng bởi Bùi Thuỵ Đào Nguyên vào 13/11/2009 07:14

 

Phiên âm

Nam phương hữu nhất sĩ
Chí đại nhi số kỳ,
Thiếu du Tuyên thánh môn,
Trưởng tiến tâm vô nghi.
Đan thư phế tẩm thực,
Nhiệm hiệp vong quyền uy.
Cử mục thương sinh khổ,
Hưng trung vô sở thi.
Tự phụ thả uẩn quỹ[1],
Thiện giá ưng hữu kỳ.
Hành niên vị tứ thập,
Thử tâm hốt dĩ suy.
Viễn cư hữu my lộc,
Kết ốc ngoạ sơn bi.
Nhàn phi cổ nhân tích[2],
Sở đắc tại Phục Hy[3].
Thuỳ tri phú quý ngoại,
Biệt hữu ta tử nhi.
Điểm đầu xí[4] cổ nhân,
Thành nhiên bất nhã khi.
Hồi thủ thiếu niên trường.
Phàm sự giai võng vi.
Hạnh ai thoát cương toả,
Mặc niệm tâm tự di.
Triết nhân thán vân viễn,
Ngô kim thuỳ kỳ quy.

Dịch nghĩa

Phương Nam có một nho sĩ,
Chí thì lớn, mà số lại lận đận.
Tuổi trẻ theo học cửa Tuyên thánh (tức Khổng Tử),
Quyết tâm thành tài, không nghi ngờ gì.
Ham đọc sách, quên ăn quyên ngủ,
Tính hào hiệp, coi khinh bọn quyền uy
Ngước mắt nhìn thấy nhân dân khổ cực.
Nhưng trong lòng không có kế chước gì thi thố được.
Tự nghĩ ngọc lành hãy để dành trong rương,
Chắc có ngày bán được giá đắt.
Đến khi tuổi chưa đầy bốn chục,
Tấm lòng xưa thoắt đã suy tàn.
Xa tìm nơi ở, bạn cùng hươu nai,
Dựng một căn nhà nằm khểnh bên sườn núi.
Khi nhàn hạ, mở xem sách người xưa,
Học được đạo lý của Phục Hy
Ai hay ngoài sự phú quý ở đời,
Riêng có một chút này quí giá.
Gật đầu khen ngợi người xưa,
Thật không dối ta chút nào!
Ngoảnh đầu nhớ lại hồi tuổi trẻ,
Mọi việc làm thảy đều càn rỡ.
May thay thoát được vòng cương toả,
Lặng nghĩ, lòng tự vui sướng.
Than ôi! Hiền triết đã xa vắng,
Giờ đây ta biết theo ai?

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Phương nam có kẻ sĩ
Chí lớn, số lao đao
Trẻ theo học cửa Thánh
Quyết thành tài mai sau
Mê sách bỏ ăn ngủ
Khinh quyền uy, khí hào
Thương dân quá cực khổ
Cứu dân không cách nào
Ngọc trong ruơng, tự nghĩ:
Có ngày được giá cao
Tuổi chưa đầy bốn chục
Lòng chốc đã mòn hao
Tìm hươu nai, xa lánh
Sườn non dựng mái lều
Khi nhàn xem sách cổ
Đạo Phục Hy thấm sâu
Ngoài giàu sang, ai biết
Còn có thú này đâu?
Gật đầu khen người trước
Chẳng dối ta tơ hào
Nhớ lại hồi còn trẻ
Sai sót đủ trăm điều
May thoát vòng cương toả
Thầm nghĩ, bụng vui sao
Hiền triết, ôi! xa vắng
Biết bao giờ, ta theo!

Nguồn: Danh nhân Bình Trị Thiên (tập I), Phan Hứa Thuỵ, NXB Thuận Hoá, 1987, tr. 60-78
Nguồn: Tuyển tập Khương Hữu Dụng - Phần thơ dịch, NXB Văn học, 2007
[1] Theo Lịch triều hiến chương loại chí (tập 3). Sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập 3), chép là "uẩn độc", và giải chú nghĩa là: cất để trong rương.
[2] Theo Lịch triều hiến chương loại chí (tập 3). Sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập 3), chép là "nhân thư".
[3] Vua đời thượng cổ Trung Quốc. Theo truyền thuyết, ô là người đã vạch ra "bát quái", làm cơ sở triết lý của Kinh Dịch. Ở đây, tác giả có ý nói, đã học được đạo lý của bộ kinh này.
[4] Theo Lịch triều hiến chương loại chí (tập 3). Sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập 3), chép là "xưng".

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Ngô Thế Lân » Vịnh hoài