14/04/2021 04:52Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Bạch Đằng hải khẩu
白藤海口

Tác giả: Nguyễn Trãi - 阮廌

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 06/05/2006 06:00

 

Nguyên tác

朔風吹海氣凌凌,
輕起吟帆過白藤。
鱷斷鯨刳山曲曲,
戈沉戟折岸層層。
關河百二由天設,
豪傑功名此地曾。
往事回頭嗟已矣,
臨流撫影意難勝。

Phiên âm

Sóc phong xung hải khí lăng lăng,
Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng.
Ngạc đoạn kình khoa[1] sơn khúc khúc,
Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng.
Quan hà bách nhị[2] do thiên thiết[3],
Hào kiệt công danh thử địa tằng.
Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ,
Lâm lưu phủ ảnh[4] ý nan thăng.

Dịch nghĩa

Cửa biển lồng lộng, gió bấc thổi băng băng;
Buồm thơ nhẹ lướt qua sông Bạch Đằng.
Nhìn núi từng khúc, như cá mập, cá sấu bị chặt từng đoạn,
Nhìn bờ từng lốp, như giáo kích gươm đao bị gãy chìm.
Cảnh núi sông hiểm yếu, tạo ra cái thế “lấy ít địch nhiều”,
Ðây là nơi hào kiệt từng lập nên công danh oanh liệt.
Việc xưa nghĩ lại, ôi tất cả đã qua rồi!
Tới đây viếng cảnh, nỗi lòng sao biết nên chăng?

Bản dịch của Nguyễn Đình Hồ

Biển rung, gió bấc thổi băng băng,
Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Ðằng.
Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,
Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.
Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,
Hào kiệt công danh đất ấy từng.
Việc cũ quay đầu, ôi đã vắng,
Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.
Bạch Đằng là con sông lịch sử của Việt Nam thuộc tỉnh Quảng Yên (Bắc Việt), bắt nguồn từ Phát Lại, chảy ra biển. Cửa Bạch Đằng xưa kia, vốn nay đã chuyển hướng, hiện thuộc Hải Phòng. Ðây là nơi mà Trần Hưng Ðạo đã đánh tan giặc Nguyên Mông. Cửa khẩu Bạch Đằng là một danh lam thắng cảnh, nơi đã từng hai lần quân Việt Nam đánh bại quân Trung Quốc xâm lược, Ngô Quyền (thế kỷ 10) phá quân Nam Hán, bắt sống thái tử Hoằng Thao, Trần Hưng Đạo (thế kỷ 13) đại thắng quân Nguyên, bắt được các tướng Ô Mã Nhi, Phan Tiệp, Tích Lệ...

Nguồn: Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, NXB Văn hoá, 1962
Nguồn: Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, NXB Văn hoá, 1962
[1] Kình, ngạc: ý nói chiến thuyền của địch (như cá kình, cá ngạc) bị tan rã như núi non đứt đoạn.
[2] Rút ý từ việc nhà Tần dựa vào địa thế hiểm yếu, nên hai người có thể địch với trăm người.
[3] Ý nói địa thế thiên nhiên hiểm trở có lợi cho kháng chiến.
[4] Các bản đều ghi Hán văn là “cảnh”, duy có bản Nguyễn Trãi toàn tập lại ghi là “ảnh” (bóng). Theo văn cảnh chúng tôi nghĩ chữ “ảnh” thích hợp hơn.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Trãi » Bạch Đằng hải khẩu