21/07/2019 23:49Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Đoản ca hành kỳ 2
短歌行其二

Tác giả: Tào Tháo - 曹操

Thể thơ: Tứ ngôn; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Tam Quốc
Đăng bởi Vanachi vào 27/06/2005 15:25

 

Nguyên tác

對酒當歌,
人生幾何:
譬如朝露,
去日苦多。
慨當以慷,
憂思難忘。
何以解憂:
惟有杜康。
青青子衿,
悠悠我心。
但為君故,
沉吟至今。
呦呦鹿鳴,
食野之苹。
我有嘉賓,
鼓瑟吹笙。
皎皎如月,
何時可輟?
憂從中來,
不可斷絕。
越陌度阡,
枉用相存。
契闊談宴,
心念舊恩。
月明星稀,
烏鵲南飛,
繞樹三匝,
無枝可依。
山不厭高,
水不厭深。
周公吐哺,
天下歸心。

Phiên âm

Đối tửu đương ca,
Nhân sinh kỷ hà:
Thí như triêu lộ,
Khứ nhật khổ đa.
Khái đương dĩ khảng,
Ưu tư nan vong.
Hà dĩ giải ưu:
Duy hữu Đỗ Khang[1].
Thanh thanh tử khâm[2],
Du du ngã tâm.
Đãn vị quân cố,
Trầm ngâm chí kim.
U u lộc minh,
Thực dã chi bình.
Ngã hữu gia tân,
Cổ sắt xuy sinh.[3]
Hạo hạo như nguyệt,
Hà thời khả chuyết?
Ưu tòng trung lai,
Bất khả đoạn tuyệt.
Việt mạch độ thiên[4],
Uổng dụng tương tồn[5].
Khế khoát[6] đàm yến,
Tâm niệm cựu ân.
Nguyệt minh tinh hy,
Ô thước nam phi,
Nhiễu thụ tam tạp,
Vô chi khả y.
Sơn bất yếm cao,
Thuỷ bất yếm thâm.[7]
Chu Công thổ bộ,
Thiên hạ quy tâm.[8]

Dịch nghĩa

Trước chén rượu nên hát ca,
Bởi vì đời người có được bao lâu,
Tựa như sương sớm,
Những ngày đã qua sầu khổ biết bao nhiêu.
Khẳng khái phấn chấn
Nhưng vẫn không quên được nỗi ưu sầu.
Muốn giải sầu
Chỉ có chén rượu (Đỗ Khang).
Tuổi học trò cổ áo xanh,
Rầu rầu lòng ta.
Chính vì mi
Mà ta trầm ngâm cho đến hôm nay.
Tiếng tác tác hươi kêu,
Nó đang ăn cỏ ngoài đồng.
Ta có khách quý
Đàn ca sáo phách.
Trăng sáng vằng vặc,
Bao giờ mới hết?
Nỗi buồn từ trong lòng,
Không thể nào dứt.
Từng băng đồng vượt khắp nẻo đường,
Dày công tận tình thăm hỏi.
Những lần gặp gỡ trò chuyện,
Cùng nhau ôn lại, trong lòng vẫn nhớ ân nghĩa cũ.
Trăng sáng sao thưa,
Quạ bay về nam.
Liệng quanh cây cao ba vòng,
Không cành nào đậu được.
Núi không ngại cao,
Sông không ngại sâu,
Ta giống như Chu công tiếp đãi hiền tài,
Thiên hạ sẽ quy thuận về ta.

Bản dịch (của Bản dịch của Hoàng Tâm)

Trước rượu ta hát
Đời người thấm thoát
Khác gì sương mai,
Hỏi ai không buồn ?
Đứng dậy, khảng khái
Nhưng buồn theo mãi
Giải sầu âu là
Theo nhà Đỗ Khang?
Áo xanh cổ cứng
Lòng sầu hôm mai
Thôi đừng nhắc mãi
Tuổi xanh thêm buồn
Hươu kêu đồng vắng
Cỏ mềm ngẩn ngơ
Nhà đông khách quý
Đàn sáo thâu đêm
Mảnh trăng trên trời
Bao giờ hết sáng?
Nỗi buồn ai hay
Vương vấn vơi đầy
Một đời gió bụi
Phí hoài cân đai
Ly hợp một đời
Mong người tri kỷ
Trăng sao thưa thớt
Quạ thảng thốt kêu
Liệng tìm quanh cây
Một cành nương náu
Không ngại núi cao
Không ngại biển sâu
Nghiền ngẫm Chu công
Thu lòng thiên hạ.
Đoản ca hành là tên một khúc nhạc phủ, thuộc Tương hoạ ca. Tào Tháo có hai bài, đây là bài thứ hai, thể hiện tráng chí và ý nguyện cầu hiền tài. Lời bài thơ trôi chảy, khí vận trầm hùng, tiêu biểu cho phong cách thơ của Tào Tháo. Bài thơ này được cho là sáng tác vào năm Kiến An thứ 13 (208), trong đêm trước trận chiến Xích Bích.

(Dự án dịch thơ của Thi Viện)
[1] Tương truyền là người đầu tiên chế ra rượu, ở đây dùng để chỉ rượu.
[2] Chỉ học trò. Học trò xưa thường mặc áo có cổ màu xanh. Bài Tử khâm 子衿 trong Thi kinh có đoạn: “Thanh thanh tử khâm, Du du ngã tâm. Túng ngã bất vãng, Tử ninh bất tự âm?” 青青子衿,悠悠我心。縱我不往,子寧不嗣音? (Cổ áo chàng xanh xanh, Lòng thiếp nhớ hoài. Dù thiếp không tới, Chàng có thăm hỏi không?), nguyên là thơ tả tình cảm nam nữ, ở đây mượn ý để chỉ việc luôn nghĩ tới hiền tài.
[3] Bốn câu này mượn ý bài Lộc minh 鹿鳴 trong Thi kinh: “U u lộc minh, Thực dã chi bình. Ngã hữu gia tân, Cổ sắt xuy sinh” 呦呦鹿鳴,食野之苹。我有嘉賓,鼓瑟吹笙 (Tiếng hươu kêu u u, Ăn cỏ hao trên nội. Ta có tân khách, Gảy đàn thổi sênh) biểu thị lòng nhiệt thành lấy lễ đãi hiền sĩ.
[4] Mạch, thiên: phiếm chỉ đường. Đường nhỏ hướng đông tây gọi là mạch, đông nam gọi là thiên.
[5] Uổng: cong; tương tồn: thăm hỏi nhau. Hai câu này ý nói không ngại trở ngại xa xôi mà thăm hỏi hiền sĩ và biểu thị tấm chân tình được bái người tài.
[6] Tụ tán, chia ly và sum vầy. Ở đây chỉ việc xa cách lâu ngày lại trùng phùng.
[7] Hai câu này mượn ý từ Quản tử 管子: “Hải bất từ thuỷ, cố năng thành kỳ đại; sơn bất từ thổ thạch, cố năng thành kỳ cao; minh chủ bất yếm nhân, cố năng thành kỳ chúng; sĩ bất yếm học, cố năng thành kỳ thánh” 海不辭水,故能成其大;山不辭土石,故能成其高;明主不厭人,故能成其眾;士不厭學,故能成其聖 (Biển không từ chối nước, nên mới lớn; núi không từ chối đất đá, nên mới cao; minh chủ không từ chối người, nên mới đông; kẻ sĩ không từ chối học, nên mới thành thánh hiền).
[8] Chu Công tên thật là Cơ Đán 姬旦, con của Chu Văn Vương và em của Vũ Vương. Thành Vương khi tức vị tuổi còn nhỏ đã được ông phò tá, chăm lo triều chính tận tình, nhờ thế mà thu phục được hiền tài. Sử ký chép một bữa cơm ông ba lần đang ăn phải nhả ra để tiếp khách tới vì sợ lỡ mất người hiền. Hai câu ý nói tận tình như Chu Công thì lòng người thiên hạ sẽ quy phục theo mình.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Tào Tháo » Đoản ca hành kỳ 2