27/11/2020 01:52Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Thiên đường đã mất
Ztracený ráj

Tác giả: Jaroslav Seifert

Nước: Séc
Đăng bởi hongha83 vào 23/11/2014 15:14

 

Nguyên tác

Starý hřbitov židovský,
to je sama kytice z šedého kamení,
na kterou šlápl čas.
Bloudil jsem mezi hroby
a myslil na matku.

Písmena ve dvou sloupcích
řinula se jí před očima
jako krev z rány.
Lampa prskala a čadila
a matka vzala si brejle.
Občas musila ji sfouknout
a urovnat svou vlásenkou
žhavý knot.

Když přivřela však unavené oči,
snila o ráji,
dokud jej Bůh ještě neobsadil
ozbrojenými cherubíny.
Často usnula a kniha
svezla se jí s klína.

Byl jscm ještě mlád,
když jsern objevil ve Starém Zákoně
úchvatné verše o lásce
a dychtivě vyhledával místa,
kde bylo psáno o incestech.
Tehdy jsem nemel ještě tušení,
kolik něhy je ukryto ve jménech
starozákonních žen.

Ada je Ozdoba a Orfa
je Laň,
Naama je Sladká
a Mikol Potůček.

Abigail je Zdroj utěšení.
Když si však vzpomenu,
jak jsme bezmocně přihlíželi,
zatímco odvlékali židy
i s plačícími dětmi,
ještě dnes prochvěje mě hrůza
a mráz mi běží po zádech.

Jemima je Holubice a Támar
je Palma.
Tersa je Líbezná
a Zelfa Krůpěj.
Můj bože, jak je to krásné!

Jaktak tu bylo již peklo,
a přece nikdo se neodvážil
vyrvat těm vrahům zbraň.
Jako bychom neměli v sobĕ
ani trochu lidskosti!

Jméno Jecholie znamená
Hospodin je mocný.
Ale jejich zamračený bůh
díval se za ostnatý drát
a nehnul prstern.

Dalila je Lahodná, Ráchel
je Ovečka,
Debora Včela
a Ester Jasná hvězda.

Sotva jsem se vrátil ze hřbitova,
červnový večer svými vůněmi
opřel se do oken.
Ale z ticha dálek občas zahřímala
budoucí válka!
Není času bez vraždění.

Byl bych však zapomněl,
Rodé je Růže.
A tento květ, to snad je jediné,
to nám na světě zbylo
z bývalého ráje.

Bản dịch của Dương Tất Từ

Nghĩa địa Do Thái cũ
tự nó là một đoá hoa bằng những phiến đá xám
mà thời gian đã giẫm đạp lên
Tôi lang thang giữa những nấm mồ
và nghĩ đến mẹ tôi
Bà thường đọc Kinh Thánh

Những dòng chữ chia làm hai cột
nhỏ giọt trước mắt bà
như máu từ những vết thương
Ngọn đèn dầu nổ lách tách và toả khói
mẹ tôi mang kính
Thỉnh thoảng bà lại lấy trâm gài đầu
khi bấc bị cháy lụi

Cứ mỗi lần mẹ tôi khép lại đôi mắt mỏi mệt
bà chợt mơ tới thiên đường
nơi trước khi bị Ông Trời chiếm đoạt
bằng những thiên thần được vũ trang
Thường thì mẹ tôi thiếp đi
và cuốn sách tuột rơi trên đùi

Hồi còn trẻ
tôi khám phá ra trong Cựu Ước
có những câu thơ tình thật cảm động
và tôi hăm hở tìm những đoạn
nói tới loạn luân
Lúc đó tôi chưa có ý niệm
về biết bao sự dịu dàng ẩn dưới những cái tên
của những người đàn bà trong Cựu Ước

Ađa là cô gái Trang điểm
và Orfa là con Linh dương
Naama là cô gái Ngọt ngào
và Mikol là Dòng suối nhỏ

Abigail là Nguồn an ủi
Khi nhớ tới cái cảnh
thiên hạ chỉ biết nhìn một cách bất lực
những người Do Thái bị đày ải
cùng với cả lũ trẻ con khóc lóc
cho đến nay tôi vẫn cảm thấy rùng mình
và ớn lạnh kinh hoàng

Jemima là chim bồ câu
Tamar là cây cọ
Tersa là Nàng kiều diễm
còn Aelfa có nghĩa là Giọt nước
Trời ơi, đẹp quá!

Dẫu sao thì đó đã là địa ngục
vậy mà không một ai
dám giật vũ khí khỏi tay bọn đao phủ
Cứ như trong chúng ta
không ai còn một chút tình người

Cái tên Yekolya có nghĩa là
Thượng đế quyền lực
Nhưng vị Thượng đế cau có của họ
chỉ nhìn qua những sợi kẽm gai
mà không hề nhúc nhích một ngón tay

Dalila là cô nàng Đỏm dáng
Rachel là con Cừu non
Debora là Con ong
Và Esther là Ngôi sao sáng

Tôi từ nghĩa địa trở về
một buổi chiều tháng sáu ngào ngạt hương
tôi tựa mình vào cửa sổ
Từ cõi xa xăm lặng lẽ thỉnh thoảng vọng lại
âm vang của cuộc chiến tranh trong tương lai!
Có thời nào mà không có chém giết

Suýt nữa tôi quên
Rhodé là Bông hồng
Loài hoa này có lẽ là thứ duy nhất
còn sót lại với chúng ta
từ Thiên đường thuở trước
Nguồn: Làm thi sĩ (Tuyển thơ và hồi ký), Jaroslav Seifert, NXB Văn học, 2007

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Jaroslav Seifert » Thiên đường đã mất