24/05/2022 16:30Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Phan công Đình Phùng vãn từ

Tác giả: Nguyễn Thượng Hiền - 阮尚賢

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Cận đại
Đăng bởi tôn tiền tử vào 12/05/2015 14:40

 

Phiên âm

Vạn lý ai già bất khả văn,
Lục long[1] thiên ngoại cách yên phân.
Binh qua chấp nghĩa phù tông quốc,
Bào hốt[2] lâm nguy bái thánh quân.
Lang miếu[3] cựu truyền chân ngự sử[4],
Giang hồ[5] kim khấp cố tương quân.
Tha niên tái kiến trung nguyên[6] định,
Hãn tặc Thường Sơn[7] hữu đại huân.

Dịch nghĩa

Tiếng kèn ai oán suốt muôn dặm không thể nghe được,
Sáu rồng ở ngoài trời, khói mây mù mịt.
Giữ trọn nghĩa, dùng can qua phò Tổ quốc,
Lúc sắp mất, mang áo mũ lạy quân vương.
Nơi triều đình, xưa đã nổi tiếng quan ngự sử chân chính,
Chốn giang hồ, nay còn thương tiếc vị tướng quân quá cố.
Sau này khi lại thấy đất trung nguyên bình định,
Việc chống giặc vẫn ghi công lớn của ông như Thường Sơn trước kia.

Bản dịch của Lê Thước

Muôn dặm kèn buồn tiếng vẳng đưa,
Ngoài trời xe ngựa khói mây mờ.
Binh qua vị nghĩa lo phò nước,
Bào hốt lâm nguy ngoảnh lạy vua.
Lang miếu trước khen đài gián giỏi,
Giang hồ nay khóc tướng quân xưa.
Trung nguyên sẽ thấy ngày bình định,
Chống giặc ghi công lúc bấy giờ.
Phan Đình Phùng quê Hà Tĩnh. Năm Ất Dậu Hàm Nghi nguyên niên (1885), ông quản suất các đạo binh Cần vương, chống nhua với giặc hơn mười năm. Quân thua, ông rút vào núi, bị bệnh nặng, lúc sắp chết, bảo lấy áo mũ, ngoảnh về kinh đô, lạy năm lạy rồi mất.

Nguồn:
1. Xứ Đoài thơ, Quỹ Hỗ trợ Văn chương & Cuộc sống biên soạn, NXB Hội nhà văn, 2012
2. Thái Bạch, Thi văn quốc cấm thời thuộc Pháp, NXB Khai Trí, 1968
3. Chương Thâu, Nguyễn Thượng Hiền - Tuyển tập thơ văn, NXB Lao Động, 2004
[1] Tức là sáu ngựa kéo xe của vua. Đây chỉ việc vua Hàm Nghi bị đày sang Angiêri.
[2] Áo và thẻ. Thời phong kiến, các quan mặc áo bào, tay cầm hốt để vào chầu vua (hốt là cái thẻ bằng bạc hay ngà, có gắn mảnh gương để soi dáng điệu cho nghiêm chỉnh).
[3] Chỗ miếu điện ở triều đình.
[4] Chức quan có nhiện vụ can ngăn vua khi có điều sai và chỉ trích các quan khi phạm phép nước. Phan Đình Phùng làm chức ngự sử, nhân việc Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường định bỏ vua Dục Đức, làm sai di chiếu của vua Tự Đức, bèn lên tiếng đàn hặc, bị cách chức, trong triều đều khen là can đảm, xứng đáng với chức vụ.
[5] Sông với hồ, chỉ những nơi xa cách triều đình, trái với lăng miếu chỉ nơi gần triều đình, gần cung miếu nhà vua. Ở đây giang hồ có ý nói chốn dân gian, làng mạc, thôn ổ.
[6] Chốn đồng ruộng đất đai, tức là đất nước. Ý câu thơ muốn nói, ngày sau dẹp yên giặc, khôi phục nước nhà.
[7] Đời Đường, Nhan Cảo Khanh làm chức thái thú quận Thường Sơn. An Lộc Sơn làm phản, Kiểu Khanh, khởi quân đánh, sau thất bại, giặc bắt, ông không chịu khuất, bị giết chết. Sau đó nhà Đường phục quốc là nhờ công ông chống giặc, làm cho giặc phải đối phó với ông, mà không theo đuổi quân Đường được, dù thất bại, nhưng vẫn có công lớn đối với việc trùng hưng.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Thượng Hiền » Phan công Đình Phùng vãn từ