22/09/2021 12:25Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Quan san nguyệt
關山月

Tác giả: Lý Bạch - 李白

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 22/03/2005 17:51

 

Nguyên tác

明月出天山,
蒼茫雲海間。
長風幾萬里,
吹度玉門關。
漢下白登道,
胡窺青海灣。
由來征戰地,
不見有人還。
戍客望邊色,
思歸多苦顏。
高樓當此夜,
嘆息未應閒。

Phiên âm

Minh nguyệt xuất Thiên San[1],
Thương mang vân hải gian.
Trường phong kỷ vạn lý,
Xuy độ Ngọc Môn quan[2].
Hán há Bạch Đăng[3] đạo,
Hồ khuy Thanh Hải[4] loan.
Do lai chinh chiến địa,
Bất kiến hữu nhân hoàn.
Thú khách vọng biên sắc,
Tư quy đa khổ nhan.
Cao lâu đương thử dạ,
Thán tức vị ưng nhàn.

Dịch nghĩa

Trăng sáng mọc trên núi Thiên San
Trong cảnh mênh mông giữa mây và biển
Gió bay mấy ngàn dặm về
Thổi đến cửa ải Ngọc Môn
Nhà Hán đồn binh ở lộ Bạch Đăng
Rợ Hồ ngấp nghé ở vũng Thanh Hải
Xưa nay vẫn là bãi chiến trường
Không thấy có ai được trở về
Người lính thú nhìn đăm đăm cảnh sắc xa xa
Lòng nhớ nhà gương mặt lộ vẻ buồn khổ
Đêm nay có ai đang ngồi trên lầu cao
Hẳn phải than thở mà không dám nhàn nhã

Bản dịch của Tản Đà

Vừng trăng ra núi Thiên San,
Mênh mang nước bể mây ngàn sáng soi.
Gió đâu muôn dặm chạy dài,
Thổi đưa trăng sáng ra ngoài Ngọc Môn.
Bạch Đăng quân Hán đóng đồn,
Vùng kia Thanh Hải dòm luôn mắt Hồ.
Từ xưa bao kẻ chinh phu,
Đã ra đất chiến, về ru mấy người ?
Buồn trông cảnh sắc bên trời,
Giục lòng khách thú nhớ nơi quê nhà.
Lầu cao, đêm vắng, ai mà,
Đêm nay than thở ắt là chưa nguôi.
(Năm 741)

[1] Tên núi ở tỉnh Tân Cương, phía bắc Trung Quốc.
[2] Giờ là Sa Châu, cách Trường An 3600 dặm.
[3] Thành Bạch Đế, huyện Phụng Tiết, tỉnh Tứ Xuyên.
[4] Tên hồ lớn ở mé đông Thanh Hải, tây tỉnh Cam Túc, chu vi ngàn dặm.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Lý Bạch » Quan san nguyệt