25/01/2020 22:03Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Vịnh sử
詠史

Tác giả: Ban Cố - 班固

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Hán
Đăng bởi hongha83 vào 09/04/2010 19:52

 

Nguyên tác

三王德彌薄,
惟後用肉刑。
太倉令有罪,
就遞長安城。
自恨身無子,
困急獨煢煢。
小女痛父言,
死者不可生。
上書詣闕下,
思古歌雞鳴。
憂心摧折裂,
晨風揚激聲。
聖漢孝文帝,
惻然感至情。
百男何憒憒,
不如一緹縈!

Phiên âm

Tam vương đức my bạc,
Duy hậu dụng nhục hình.
Thái Thương lệnh[1] hữu tội,
Tựu đệ Trường An thành.
Tự hận thân vô tử,
Khốn cấp độc quỳnh quỳnh.
Tiểu nữ thống phụ ngôn,
Tử giả bất khả sinh.
Thượng thư nghệ khuyết hạ,
Tư cổ ca "Kê minh[2]".
Ưu tâm tồi chiết liệt,
Thần phong dương kích thanh.
Thánh Hán Hiếu Văn Đế[3],
Trắc nhiên cảm chí tình.
Bách nam hà hội hội,
Bất như nhất Đề Oanh!

Bản dịch (của Bản dịch của Phạm Công Đạt)

Tam vương đức quá bạc
Thường dùng đến nhục hình
Thái Thương Lệnh có tội
Giải đi Trường An thành
Đáng tiếc không nam tử
Cô đơn chỉ một mình
Gái nhỏ đau lời cha
Chết rồi đâu sống lại
Dâng thư đến dưới khuyết
Học gà gáy bình minh
Gió sớm nâng tiếng gáy
Lòng đau muốn rữa tan
Thánh Hán Hiếu Văn Đế
Cảm nghe những thương tình
Trăm nam mà vô dụng
Sao bằng một Đề Oanh
Bài này vịnh việc Đề Oanh, người đời Tây Hán. Năm 167 tr.CN, nàng từng dâng thư lên Hán Văn Đế để cầu xin tha tội cho cha mình là Thuần Vu Ý 淳于意. Nàng dùng lời lẽ rất cảm động khiến vua tha cho cha nàng bị nhục hình.

Nguồn: Văn học sử Trung Quốc, NXB Phụ nữ, 2000.
[1] Tức phụ thân của Đề Oanh, từng nhậm một chức quan nhỏ ở Thái Thương.
[2] Tên một bài trong Thi kinh, ý nói mong được gặp người quân tử.
[3] Miếu hiệu của vua thứ tư nhà Tây Hán là Lưu Hằng. Lưu Hằng (202-157) là con thứ của Hán Cao Tổ Lưu Bang (256-195) thân mẫu là Bạc Cơ. Lưu Hằng được lập làm đại vương năm 196 TCN, lên nối ngôi hoàng đế năm 180 TCN, ở ngôi 23 năm (180-157). Mất năm 45 tuổi. Chôn ở Bá Lăng. Miếu hiệu: Hán Thái Tông Hiếu Văn Hoàng Đế nhưng thường được gọi tắt là Hán Văn Đế. Trong thời gian ở ngôi Hán Văn Đế không đặt niên hiệu nào cả.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Ban Cố » Vịnh sử