01/07/2022 16:56Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Cảm lưu vong
感流亡

Tác giả: Vương Vũ Xứng - 王禹偁

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Bắc Tống, Liêu
Đăng bởi tôn tiền tử vào 31/08/2018 11:42

 

Nguyên tác

滴居歲雲暮,
晨起廚無煙。
賴有可愛日,
懸在南榮遷。
高舂己數丈,
和暖如春天。
門臨商於路,
有客憩檐前。
老翁與病嫗,
頭鬢皆皤然。
呱呱三兒泣,
煢煢一夫鰥。
道糧無斗粟,
路費無百錢。
聚頭未有食,
顏色頗饑寒。
試問何許人,
答云家長安。
去年關輔旱,
逐熟入穰川。
婦死埋异鄉,
客貧思故園。
故園雖孔邇,
秦嶺隔藍關。
山深號六里,
路峻名七盤。
襁負且乞丐,
凍餒復險艱。
惟愁大雨雪,
殭死山谷間。
我聞斯人語,
倚戶獨長嘆。
爾為流亡家,
我為冗散官。
在官無俸祿,
奉親乏甘鮮。
因思筮仕來,
倏年過十年。
峨冠蠹黔首,
旅進長素餐。
文翰皆徒爾,
放逐固宜然。
家貧與親老,
睹爾聊自寬。

Phiên âm

Trích cư tuế vân mộ,
Thần khởi trù vô yên.
Lại hữu khả ái nhật,
Huyền tại nam vinh thiên.
Cao thung dĩ sổ trượng,
Hoà noãn như xuân thiên.
Môn lâm Thương Ư[1] lộ,
Hữu khách khệ thiềm tiền.
Lão ông dữ bệnh ẩu,
Đầu mấn giai bà nhiên.
Cố cố tam nhi khấp,
Huỳnh huỳnh nhất phu quan.
Đạo lượng vô đẩu túc,
Lộ phí vô bách tiền.
Tụ đầu vị hữu thực,
Nhan sắc phả cơ hàn.
Thí vấn hà hử nhân,
Đáp vân gia Trường An.
Khứ niên Quan Phụ[2] hạn,
Trục thục nhập nhương xuyên.
Phụ tử mai dị hương,
Khách bần tư cố viên.
Cố viên tuy khổng nhĩ,
Tần Lĩnh cách Lam Quan[3].
Sơn thâm hiệu Lục Lý[4],
Lộ tuấn danh Thất Bàn[5].
Cưỡng phụ thả khất cái,
Đống nỗi phục hiểm gian.
Duy sầu đại vũ tuyết,
Cương tử sơn cốc gian.
Ngã văn tư nhân ngữ,
Ỷ hộ độc trường than.
Nhĩ vi lưu vong khách,
Ngã vi nhũng tản quan.
Tại quan vô bổng lộc,
Phụng thân phạp cam tiên.
Nhân tư phệ sĩ[6] lai,
Thốc nhiên quá thập niên[7].
Ngã quan đố kiềm thủ,
Lữ tiến trường tố san.
Văn hàn giai đồ nhĩ,
Phóng trục cố nghi nhiên.
Gia bần dữ thân lão,
Đổ nhĩ liêu tự khoan.

Dịch nghĩa

Mây cuối năm nơi biếm trích
Sáng ra dưới bếp không có khói
May còn có vầng mặt trời đáng yêu
Treo ở đầu hồi phía nam
Giờ giã gạo đã đến
Ấm áp như trời xuân
Cửa ở bên đường Thương Ư
Có khách nghỉ chân ở trước thềm
Ông già với bà lão ốm
Đầu tóc đều đã trắng phơ
Ba đứa nhỏ khóc thút thít
Thân lận đận người chồng goá vợ
Gạo ăn đường không một đấu
Lộ phí không một trăm đồng
Sống chụm lại với nhau không có cái ăn
Đói rét hiện lên mặt
Thử hỏi là người ở nơi nào
Đáp là nhà ở Trường An
Năm ngoái Quan Phụ bị hạn
Đi tìm nơi được mùa
Dân chết chôn nơi đất lạ
Thân nghèo nơi đất khách nhớ làng cũ
Làng cũ tuy không xa
Tần Lĩnh cách Lam Quan
Nơi núi sâu gọi là Lục Lý
Đường hiểm trở có tên là Thất Bàn
Đèo cõng con đi xin ăn
Đường khó đi lại còn đói rét
Rất lo mưa to tuyết lớn
Rồi chết cứng trong hốc núi
Ta nghe người này kể
Tựa cửa riêng thở dài
Ngươi là khách lưu tán
Ta là vị quan thừa
Làm quan không bổng lộc
Nuôi cha mẹ thiếu miếng ngọt ngon
Nhân nhớ đến ngày ra làm quan đến nay
Chốc một mà đã qua mười năm
Bọn mũ cao là chùm sâu mọt
Cứ dựa dẫm để kiếm miếng ăn
Sách vở rồi cũng uổng phí
Bị biếm trích phải vững vàng
Nhà nghèo có cha mẹ
Trông thấy ngươi lòng cũng tạm được thư.

Bản dịch của Lê Xuân Khải

Mây cuối năm nơi trích
Sáng bếp không khói nhen
Mặt trời yêu may có
Treo bên hồi phía nam
Trời chiều giờ giã gạo
Ấm áp như ngày xuân
Đường Thương Ư trước cửa
Có khách nghỉ ngoài hiên
Ông già, bà lão ốm
Mái đầu không sợi đen
Thút thít ba trẻ khóc
Lận đận goá một thân
Ăn đường không đấu gạo
Lộ phí không trăm tiền
Xúm nhau ăn chẳng có
Trên mặt lộ cơ hàn
Người nơi nào thử hỏi
Đáp là người Tràng An
Năm ngoái Quan Phụ hạn
Tìm mùa màng kiếm ăn
Dân chết chôn đất lạ
Nhớ quê khách bần hàn
Làng quê chẳng xa mấy
Tần Lĩnh cách Lam Quan
Núi sâu gọi Lục Lý
Đường hiểm tên Thất Bàn
Đi xin ăn đìu cõng
Đói rét đường khó khăn
Chỉ lo mưa tuyết lớn
Hốc núi chết đờ thân
Ta nghe người này nói
Tựa cửa riêng thở than
Ngươi là khách lưu tán
Ta là viên tản quan
Làm quan không bổng lộc
Cha mẹ thiếu ngọt ngon
Ngày ra quan nghĩ lại
Chốc một quá mười năm
Mũ cao chùm sâu mọt
Hùa nhau kiếm miếng ăn
Sách vở đều uổng phí
Biếm trích càng gắng bền
Nhà nghèo có cha mẹ
Thấy ngươi lòng tạm khoan.
Bài này tuyển từ Tiểu súc tập quyển 3, bản sao đời Minh.

[1] Tên đất cũ, nay ở huyện Thương Thiểm Tây, huyện Tích Xuyên, huyện Nội Hương, Hà Nam.
[2] Quan Trung và Tam Phụ. Quan Trung chỉ giữa Hàm Quan và Lũng Quan, tương đương với lưu vực sông Vị hiện nay. Tam Phụ chỉ một giải Tam Phụ quan Kinh Kỳ, khu vực thống trị của tả, hữu nội sử và đô uý.
[3] Từ Thương Châu đến Trường An khoảng 200 dặm, cách ở khoảng giữa có Trùng Lĩnh san, Nghiêu Quan. Trùng Lĩnh sơn thuộc mạch núi Tần Lĩnh. Nghiêu Quan ở đông nam Lam Điền nên gọi là Lam Quan.
[4] Do câu “Thương sơn thâm Lục Lý”.
[5] Thương sơn có tiếng là “Thất bàn thập nhị phong” (Núi Thương sơn có 7 đoạn quanh và 12 đỉnh).
[6] Dùng cỏ thi để bói tốt xấu gọi là phệ. Người xưa trước khi ra làm quan thường bói tốt xấu, cho nên ra làm quan gọi là phệ sĩ.
[7] Vương Vũ Xứng đậu tiến sĩ vào năm thứ tám Thái bình hưng quốc (983), làm chủ bạ huyện Thành Vũ. Đến năm thứ 3 Thuần Hoá (993) làm bài thơ này vừa đúng 10 năm.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Vương Vũ Xứng » Cảm lưu vong