06/08/2021 11:06Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tiễn Lại bộ Hữu thị lang Phạm công phụng sai Quảng Nam nhung vụ
餞吏部右侍郎范公奉差廣南戎務

Tác giả: Hoàng Nguyễn Thự - 黃阮曙

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
Đăng bởi hongha83 vào 16/11/2020 21:34

 

Nguyên tác

君今去路我來程,
投筆飛鞍此一行。
名播三軍官則吏,
位參列效事於兵。
即盤根處應知節,
折柳橋邊不盡情。
繾綣臨岐無剩語,
張齊賢是宋書生。

Phiên âm

Quân kim khứ lộ ngã lai trình,
Đầu bút phi yên thử nhất hành.
Danh bá tam quân quan tắc lại,
Vị tam liệt hiệu sự ư binh.
Tức bàn căn xứ ưng tri tiết,
Chiết liễu kiều biên[1] bất tận tình.
Khiển quyển lâm kỳ vô thặng ngữ,
Trương Tề Hiền[2] thị Tống thư sinh.

Dịch nghĩa

Nay ông ra đi, tôi trở về,
Quẳng bút, lên yên đi một chuyến.
Danh lừng khắp ba quân, quan xuống làm lính,
Ngôi ngang hàng tướng hiệu, tham gia việc binh.
Ở chốn gian lao mới biết khí tiết mạnh mẽ,
Bẻ liễu bên cầu sao nói hết nghĩa tình.
Quyến luyến lúc chia tay, sao nói lên lời,
Trương Tề Hiền đích thị là gã thư sinh đời Tống.

Bản dịch của Nguyễn Hữu Thăng

Tôi lui, ông tiếp cuộc hành trình
Gác bút lên đường việc chiến chinh
Danh khắp toàn quân, quan xuống lính
Ngôi hàng tướng hiệu, chức điều binh
Vào nơi trận mạc lừng uy vũ
Bẻ liễu cầu sông vẹn nghĩa tình
Quyến luyến chia tay lời khó tả
Trương Tề Hiền đó vốn thư sinh.
Lạc khoản: “Trọng thu trung” 仲秋中 (Tháng tám).

Nguồn: Tạ Ngọc Liễn, Nguyễn Tá Nhí, Hoàng Nguyễn Thự: Cuộc đời và thơ văn, NXB Văn học, 1997
[1] Nguyên chú: Ung Đào và Dương An tiễn khách đến cầu Tình Tận, bèn hỏi tả hữu rằng: “Tại sao cầu lại có tên thế?” Trả lời: “Đất đưa đón đều dừng ở đây, cho nên gọi tên cầu là Tình Tận”. Ông Đào liền sai mang bút đến rồi đề “Chiết Liễu kiều” (Cầu bẻ liễu) vào trụ cầu. Từ đó về sau khi đưa tiễn, người ta đều ngâm câu thơ của ông:
Tòng lai chỉ hữu tình nan tận,
Hà sự danh vi Tình Tận kiều.
Tự thử cải danh vi Chiết Liễu,
Nhiệm tha ly hận nhất điều điều.

(Xưa nay chỉ có tình khôn tận,
Hà cớ đặt tên Tình Tận kiều.
Từ đó đổi là cầu chiết liễu,
Chia tay xa vắng những tiêu điều.
- Tạ Ngọc Liễn, Nguyễn Tá Nhí dịch)

[2] Trương Tề Hiền 張齊賢 (943-1014), danh tướng đời Bắc Tống, vốn xuất thân bình dân, do hiếu học, có tài, năm 977 được Tống Thái Tông trao danh hiệu tiến sĩ, sau được giao công việc chỉ huy quân sự, từng giữ nhiều trọng trách, lập nhiều công tích, làm đến chức Tể tướng. Chưa rõ tác giả sử dụng ở đây với dụng ý gì.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Hoàng Nguyễn Thự » Tiễn Lại bộ Hữu thị lang Phạm công phụng sai Quảng Nam nhung vụ