19/11/2019 02:50Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Phọc nhung nhân
縛戎人

Tác giả: Bạch Cư Dị - 白居易

Thể thơ: Thất ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Trung Đường
Đăng bởi Vanachi vào 16/09/2007 15:30

 

Nguyên tác

縛戎人,縛戎人,
耳穿面破驅入秦。
天子矜憐不忍殺,
詔徙東南吳與越。
黃衣小使錄姓名,
領出長安乘遞行。
身被金創面多瘠,
扶病徒行日一驛。
朝餐飢渴費杯盤,
夜臥腥臊汚牀席。
忽逢江水憶交河,
垂手齊聲嗚咽歌。
其中一虜語諸虜,
爾苦非多我苦多。
同伴行人因借問,
欲說喉中氣憤憤。
自云鄉管本涼原,
大曆年中沒落蕃。
一落蕃中四十載,
遣著皮裘繫毛帶。
唯許正朝服漢儀,
斂衣整巾潛淚垂。
誓心密定歸鄉計,
不使蕃中妻子知。
暗思幸有殘筋力,
更恐年衰歸不得。
蕃候嚴兵鳥不飛,
脫身冒死奔逃歸。
晝伏宵行經大漠,
雲陰月黑風沙惡。
驚藏青冢寒草疎,
偷渡黃河夜冰薄。
忽聞漢軍鼙鼓聲,
路傍走出再拜迎。
遊騎不聽能漢語,
將軍遂縛作蕃生。
配向東南卑濕地,
定無存卹空防備。
念此吞聲仰訴天,
若爲辛苦度殘年。
涼原鄉井不得見,
胡地妻兒虛棄捐。
沒蕃被囚思漢土,
歸漢被劫爲蕃虜。
早知如此悔歸來,
兩地寧如一處苦。
縛戎人,
戎人之中我苦辛。
自古此冤應未有,
漢心漢語吐蕃身。

Phiên âm

Phọc nhung nhân! Phọc nhung nhân!
Nhĩ xuyên, diện phá, khu nhập Tần,
Thiên tử căng liên bất nhẫn sát
Chiếu tỉ đông nam Ngô dữ Việt.
Hoàng y tiểu sứ lục tính danh,
Lĩnh xuất Trường An thừa đệ hành.
Thân bị kim sang, diện đa tích,
Phù bệnh đồ hành nhật nhất dịch.
Triêu xan cơ khát phí bôi bàn,
Dạ ngoạ tinh táo ô sàng tịch.
Hốt phùng Giang thuỷ ức Giao Hà,
Thuỳ thủ tề thanh ô yết ca.
Kì trung nhất lỗ ngữ chư lỗ:
Nhĩ khổ phi đa, ngã khổ đa.
Đồng bạn hành nhân nhân tá vấn,
Dục thuyết hầu trung khí phẫn phẫn,
Tự vân hương quản bản Lương Nguyên,
Đại Lịch niên trung một lạc Phồn.
Nhất lạc Phồn trung tứ thập hải,
Thân trước bì cừu hệ mao đới.
Duy hứa chinh triêu phục Hán nghi,
Liễm y chỉnh cân tiềm lệ thuỳ,
Thệ tâm mật định qui hương kế,
Bất tử Phồn trung thê tử tri.
Ám tư hạnh hữu tàn cân cốt,
Cánh khủng niên suy qui bất đắc.
Phồn hậu nghiêm binh điểu bất phi,
Thoát thân mạo tử bôn đào qui.
Trú phục tiêu hành kinh đại mạc.
Vân âm nguyệt hắc, phong sa ác,
Kinh tàng thanh trủng hàn thảo sơ,
Thâu độ Hoàng Hà dạ băng bạc.
Hốt văn Hán quân bề cổ thanh,
Lộ bàng tẩu xuất tái bái nghênh,
Du kị bất thính năng Hán ngữ,
Tướng quân toại phọc tác Phồn sinh.
Phối hướng Giang Nam ti thấp địa,
Định vô tồn tuất không phòng bị,
Niệm thử thôn thanh ngưỡng tố thiên,
Nhược vi tân khổ độ tàn niên.
Lương Nguyên hương tỉnh bất đắc kiến,
Hồ địa thê nhi hư khí quyên.
Một Phồn bị tù tư Hán thổ,
Qui Hán bị hiếp vi Phồn lỗ.
Tảo tri như thử hối quy lai,
Lưỡng địa ninh như nhất xứ khổ.
Phọc nhung nhân!
Nhung nhân chi trung ngã khổ tân.
Tự cổ thử oan ứng vị hữu,
Hán tâm Hán ngữ Thổ Phồn thân!

Dịch nghĩa

Người Nhung bị trói! Người Nhung bị trói!
Tai thủng, mặt bầm tím, bị giải tới đất Tần.
Vua thương tình không nỡ giết,
Truyền dời đến vùng đông nam đất Ngô và Việt.
Sứ giả cấp nhỏ mặc áo vàng ghi tên họ,
Lãnh ra khỏi Trường An, giải đoàn tù ra đi.
Thân bị thương do vũ khí, mặt nhiều vết trầy,
Trong mình có bệnh vẫn phải đi mỗi ngày tới một trạm nghỉ.
Buổi sáng ăn uống không có bàn và chén,
Buổi tối nằm làm tanh hôi giường chiếu.
Chợt thấy sông Trường Giang mà nhớ sông Giao Hà,
Cả bọn thõng tay líu lo hát.
Trong đó có một người tù nói với bọn tù:
"Các bạn không khổ nhiều bằng tôi".
Bạn tù đi cùng nhân đó hỏi dò,
Muốn nói mà khí uất dâng đầy trong cổ họng.
Tự thuật quê quán vốn ở Lương Nguyên,
Trong niên hiệu Đại Lịch lạc sang đất Phồn.
Từ khi sang đất Phồn đã trải bốn chục năm,
Thân mặc áo da, thắt lưng dây lông.
Chỉ hứa sáng đầu năm mới mặc đồ Hán,
Mặc quần áo chít khăn chỉnh tể mà lệ ngầm rơi.
Thề sẽ trở về cố hương, trong thâm tâm đã có kế hoạch,
Không cho vợ con ở Phồn biết.
Nghĩ thầm may mà còn chút gân cốt tàn,
Chứ để đến già e rằng sẽ không về quê được.
Lính Phồn canh gác nghiêm ngặt đến chim cũng không bay thoát,
Liều chết trốn chạy cũng thoát thân được.
Ngày núp, đêm đi xuyên qua sa mạc lớn,
Mây u ám, không trăng, gió cát dữ dội.
Kinh sợ khi ẩn trong mồ mả cỏ lạnh thưa thớt,
Đêm lén bơi qua sông Hoàng Hà đóng băng mỏng.
Chợt nghe tiếng trống của quân Hán,
Chạy tới bên đường bái lạy nghênh đón.
Lính cưỡi ngựa không hiểu được tiếng Hán ta nói,
Tướng chỉ huy sai trói ta lại như người Phồn
Cho nhập toán tù binh giải tới vùng Giang Nam ẩm thấp,
Chẳng có ai thăm hỏi, giúp đỡ.
Tới mức đó ngửa mặt nén tiếng kêu trời,
Thế là phải chịu đắng cay tới cuối đời.
Giếng làng Lương Nguyên chẳng thấy,
Vợ con bỏ suông trên đất Hồ.
Trong đất Phồn tù túng nhớ đất Hán,
Về Hán bị bắt ép làm tù binh Phồn.
Nếu sớm biết như thế này thì về làm chi,
Hai nơi cùng khổ thà ở một nơi.
Người Nhung bị trói!
Trong bọn người Nhung này ta đau khổ nhất.
Từ xưa nỗi oan này chưa từng có,
Tâm hồn Hán, nói tiếng Hán trong thân xác Thổ Phồn.

Bản dịch (của Bản dịch của Khương Hữu Dụng)

Trói tù Phồn! Trói tù Phồn!
Tai thủng rách mặt dắt về Tần.
Vua thấy thương tình, không nỡ giết,
Lệnh truyền đem giải sang Ngô, Việt.
Sổ bộ ghi xong, cai áo vàng
Cho xe chở họ khỏi Trường An.
Mình mẩy bị thương mặt đầy vết,
Mang bệnh, mỗi ngày một trạm, lết.
Sớm ăn đói khát, bát mâm chi,
Tối ngủ máu me giường chiếu bết.
Gặp dòng sông bỗng nhớ Giao Hà,
Buông xuôi tay cùng nghẹ tiếng ca.
Một bác tù than cùng cả bọn:
Khổ anh đâu sánh khổ tôi mà!
Anh em xúm hỏi thăm nguồn ngọn,
Toan nói, uất cồn lên cổ họng.
Rằng: tôi quê vốn ở Lương Ngươn,
Đại Lịch sa chân đến Thổ Phồn.
Thổ Phồn bốc chục năm trôi nổi,
Mặc áo da cừu lông thắt dải.
Được mang Hán phục buổi đầu năm,
Khoác áo chít khăn lệ ứa thầm.
Định lẻ vợ con nơi đất Thổ,
Quê nhà tìm cách trốn về thăm.
Nghĩ bụng may còn đôi chút sức,
E nữa tuổi già về chẳng được.
Trời Phồn chim khó lọt vòng canh,
Trốn về liều chết thoát thân mình.
Đêm đi ngày nghỉ qua sa mạc,
Trăng tối mây mù đầy gió cát.
Nấp liều cỏ lạnh mộ Chiêu Quân,
Lẻn vượt sông Hoàng băng đóng lớp.
Bỗng nghe quân Hán trống chiêng dồn;
Chạy ra vái lịa đón bên đường.
Quân kị chẳng thèm nghe tiếng Hán,
Tướng truyền trói lại: "Mày quân Phồn!"
Đày đến Giang Nam miền nước độc,
Ma nào thăm hỏi, ai săn sóc!
Xót thân ngửa mặt lặng kêu trời,
Cay đắng ngày tàn bóp bụng thôi!
Quê cũ Lương Ngươn không được thấy,
Đất Hồ luống bỏ vợ con rồi!
Qua Phồn bị tù, nhớ đất Hán,
Về Hán làm tù Phồn mới chán!
Biết nông nỗi ấy nỏ về chi,
Khổ cả hai bên thà một chốn.
Trói tù Phồn!
Trong bọn, riêng tôi khổ quá chừng!
Từ trước oan này e chửa có:
Lòng Hán, tiếng Hán, lại thân Phồn!
Bạch Cư Dị mô tả nỗi oan của một người Hán đương thời với ông. Trong niên hiệu Đại Lịch (766-780) đời Đường Đại Tông, vì kế sinh nhai mà trôi dạt sang đất rợ Thổ Phồn. Y lấy vợ Thổ Phồn sinh con, mặc đồ, nói tiếng Thổ Phồn. Được ít lâu, y nhớ quê quán, bỏ lại vợ con trốn về. Gặp đội biên phòng nhà Đường, y ra quỳ lạy mong được đưa về quê quán. Quân biên phòng nghe y nói tiếng Hán không chuẩn, bèn nghi là gián điệp, bắt làm tù binh giải về kinh đô. Vua truyền đày y ra vùng Giang Nam…

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Bạch Cư Dị » Phọc nhung nhân