14/04/2021 08:17Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Kỳ 1
其一

Tác giả: Vũ Phạm Hàm - 武范邯

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Cận đại
Đăng bởi Vanachi vào 27/09/2018 14:22

 

Nguyên tác

一官常懼處非才,
坐對寒松手自裁。
只見絲綸終日降,
不知冠蓋幾人迴。
行人自笑不歸去,
往事空成半醉來。
日暮鄉關何處是,
長亭一望一徘徊。

Phiên âm

Nhất quan thường cụ xử phi tài[1],
Toạ đối hàn tùng thủ tự tài.
Chỉ kiến ty luân[2] chung nhật giáng,
Bất tri quan cái[3] kỷ nhân hồi.
Hành nhân tự tiếu bất quy khứ,
Vãng sự không thành bán tuý lai.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Trường đình nhất vọng nhất bồi hồi[4].

Dịch nghĩa

Làm quan thường sợ tài năng không xứng với chức vị,
Ngồi buồn trước cây tùng do tay mình tự trồng.
Chỉ thấy chiếu thư cầu hiền tài suốt buổi ban ra mà không được đắc dụng,
Những kẻ thành đạt mũ cao áo rộng, quay đầu lui về ẩn dật biết được có mấy người.
Ta cũng là người đang đi trên con đường hoạn lộ ấy, tự cười mình còn chưa lui về được,
Chuyện cũ thôi đã không làm được gì, chỉ nên dở say mà đi.
Chiều hôm nhớ quê hương ấy ở xứ nào,
Chốn trường đình xa ngắm non sông, trong dạ lại bồi hồi không nỡ.

Bản dịch của Nguyễn Đức Toàn (II)

Làm quan sợ chẳng xứng tài,
Khóm tùng ngồi rỗi tự tay vun trồng.
Cầu hiền chiếu ấy như không,
Áo cao mũ rộng mấy ông quay đầu.
Cùng đường lòng những buồn đau,
Không thành, việc cũ ôm sầu mà đi.
Chiều hôm quê cũ nhớ gì,
Đình xa ngóng vọng nghĩ về quê hương.
Các câu được trích từ:
- Câu 1. Tiết Phùng, Đồng quan dịch đình (câu 6)
- Câu 2. Hoàng Phủ Nhiễm, Thu nhật đông giao (câu 2)
- Câu 3. Cao Biền, Y vận phụng thù Lý Địch (câu 5)
- Câu 4. Hứa Hồn, Đề Từ Hạo miếu (câu 8)
- Câu 5. Thôi Lỗ, Xuân nhật Trường An tức sự (câu 3)
- Câu 6. Hàn Ác, Bán tuý (câu 4)
- Câu 7. Thôi Hiệu, Hoàng Hạc lâu (câu 7)
- Câu 8. Ngô Dung, Bành Môn dụng bình hậu kinh Biện lộ (câu 1)

[1] Ý nói ở vào ngôi vị cao mà không tài cán gì, không xứng với chức vị. Theo Tấn thư, khi Đông Hải Vương Tư Mã Việt mất, toàn quân suy tôn Vương Diễn làm nguyên soái, Vương Diễn không dám nhận nói: “Ta lúc trẻ không có chí làm quan chỉ nhờ vào văn điệp tuyển quan mà đến được như thế này, việc hôm nay sao dám không tài cán gì mà ngồi vào chỗ ấy”.
[2] Kinh lễ - Truy y: “Vương ngôn như ty kỳ xuất như luân” 王言如絲其出如綸 (Lời vua mới nói ra như sợi tơ, khi nói ra đến lúc thi hành ở bên ngoài thì như sợi luân). Về sau dùng chữ “ty luân” để chỉ chiếu thư của các bậc đế vương. Đời Đường có Ty Luân các là nơi soạn các chiếu chỉ văn thư của hoàng đế. Đường thi cổ suý: “Hôm nay chiếu thư nói về việc cầu hiền... thấy chiếu thư tuy giáng mà không được thi hành, vậy nên công nghiệp cũng khó thành được”.
[3] Chỉ quan lại, công khanh. Nguyên câu này ở trong bài Đề Tứ Hạo miếu. Đường thi cổ suý: “Kinh đô đời Đường thuộc Thiểm Tây, nơi có núi Thương Sơn là nơi ẩn dật của bốn ông lão, người đời xưng là Tứ Hạo. Ý thơ chỉ nơi gần kinh đô, sĩ phu khanh tướng qua lại đông đúc ngang qua núi Thương Sơn, những người ấy biết từ bỏ danh lợi để quay về ẩn dật như Tứ Hạo được mấy người.”
[4] Đường thi cổ suý: “Đứng nơi trường đình ly biệt ngắm vọng bồi hồi không nỡ đi, là do suy tư đến quan hà muôn dặm phải trải qua bao trận chiến mới có được như bây giờ”.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Vũ Phạm Hàm » Kỳ 1