27/11/2020 06:20Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Mô ngư nhi - Nhạn khâu
摸魚兒-雁丘

Tác giả: Nguyên Hiếu Vấn - 元好問

Thể thơ: Từ phẩm; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Nam Tống, Kim
Đăng bởi Vanachi vào 11/07/2005 02:46

 

Nguyên tác

問世間、情是何物,
直教生死相許?
天南地北雙飛客,
老翅幾回寒暑。
歡樂趣、
離別苦,
就中更有痴兒女。
君應有語,
渺萬里層雲。
千山暮雪,
隻影向誰去?

橫汾路、
寂寞當年蕭鼓,
荒煙依舊平楚。
招魂楚些何嗟及,
山鬼暗啼風雨。
天也妒、
未信與,
鶯兒燕子俱黃土。
千愁萬古,
為留待騷人。
狂歌痛飲,
來訪雁丘處。

Phiên âm

Vấn thế gian tình thị hà vật,
Trực giao sinh tử tương hứa?
Thiên nam địa bắc song phi khách,
Lão sí kỷ hồi hàn thử.
Hoan lạc thú,
Ly biệt khổ,
Tựu trung cánh hữu si nhi nữ.
Quân ưng hữu ngữ,
Diểu vạn lý tằng vân.
Thiên sơn mộ tuyết,
Chích ảnh hướng thuỳ khứ?[1]

Hoành Phần lộ[2],
Tịch mịch đương niên tiêu cổ[3],
Hoang yên y cựu bình sở[4].
“Chiêu hồn[5]” Sở ta[6] hà ta cập,
“Sơn quỷ[7]” ám đề phong vũ[8].
Thiên dã đố,
Vị tín dữ,
Oanh nhi yến tử câu hoàng thổ.
Thiên sầu vạn cổ,
Vi lưu đãi tao nhân[9].
Cuồng ca thống ẩm,
Lai phỏng nhạn khâu xứ.

Dịch nghĩa

Hỏi thế gian, tình là vật gì,
Mà khiến (những chú chim nhạn này) sống chết hẹn thề nhau?
Dù trời nam hay đất bắc, hai kẻ vẫn luôn sát cánh bên nhau,
Đã trải qua biết bao lúc cùng nhau ấm lạnh.
Niềm vui thú khi hoan lạc,
Nỗi khổ lúc chia lìa,
Chung quy đều chỉ vì có tình si như người nam si tình kẻ nữ.
Lời người phải nói ra đi,
Nhưng đã xa mịt mù trên tầng mây vạn dặm (tức đã chết).
Từ nay ta sớm chiều qua ngàn non tuyết,
Bóng lẻ này biết về đâu cùng ai?

Trên dải sông Phần,
Tiếng nhạc trống, tiêu rộn rã năm xưa nay đã thành tịch mịch,
Rừng cây trải rộng, khói hoang xen lẫn.
Bài “Chiêu hồn” cất lên đâu còn kịp,
Khúc “Sơn quỷ” cũng ảm đạm trong mưa gió.
Trời cũng biết ghen tị,
Há vẫn còn chưa tin ư,
Đôi kẻ yến oanh rồi cũng trở thành nấm đất.
Ngàn mối sầu đành để lưu truyền tới vạn đời sau,
Để đối đãi những tao nhân mặc khách.
(Sẽ có người) hát trong điên cuồng, uống rượu trong đau khổ,
Tới tìm thăm lại nấm mộ chim nhạn này.

Bản dịch của Điệp luyến hoa

Hỏi thế gian, tình là chi nhỉ,
Cùng nhau hẹn thề sinh tử?
Trời nam đất bắc cùng bay khắp,
Lạnh nồng bên nhau mấy độ.
Hoan lạc thú,
Ly biệt khổ,
Đều bởi có tình si nhi nữ.
Lời người dang dở,
Khuất bóng vạn tầng mây.
Ngàn non tuyết muộn,
Bóng lẻ về đâu chứ?

Sông Phần đó,
Tiêu trống năm xưa lặng lẽ,
Rừng hoang khói lồng xen kẽ.
“Chiêu hồn” cất lên nào còn kịp,
“Sơn quỷ” mịt mờ mưa gió.
Trời hẹp dạ,
Sao chửa rõ,
Yến oanh rồi cũng thành đất đỏ.
Ngàn sầu vạn cổ,
Lưu lại đợi khách thơ.
Ca cuồng uống khổ,
Tới thăm mồ nhạn cũ.
Lời dẫn: Thái Hoà[10] ngũ niên Ất Sửu tuế, phó thí Tinh Châu[11], đạo phùng bộ nhạn giả vân: “Kim nhật hoạch nhất nhạn, sát chi hĩ. Kỳ thoát võng giả bi minh bất năng khứ, cánh tự đầu ư địa nhi tử.” Dư nhân mãi đắc chi, táng chi Phần thuỷ chi thượng, luỹ thạch vi chí, hiệu viết nhạn khâu. Thì đồng hành giả đa vi phú thi, dư diệc hữu “Nhạn khâu từ”. Cựu sở tác vô cung thương, kim cải định chi. 泰和五年乙丑歲,赴試并州,道逢捕雁者,云:『今日獲一雁,殺之矣。其脫網者悲鳴不能去,竟自投於地而死』。予因買得之,葬之汾水之上,累石為識,號曰雁丘。時同行者多為賦詩,予亦有〈雁丘詞〉。舊所作無宮商,今改定之。 (Năm Ất Sửu Thái Hoà thứ năm, tới Tinh Châu thi, đường gặp người bắt nhạn nói: “Hôm nay bắt được một con nhạn, đem giết. Con thoát được lưới buồn hót không chịu đi, cuối cùng lao xuống đất mà chết.” Tôi bèn mua lấy, đem chôn trên sông Phần, đắp đá thành mộ chí, gọi là mồ chim nhạn. Khi đó nhiều người cùng đi làm thơ phú, tôi cũng làm bài “Nhạn khâu từ”. Bài cũ đó không theo nhạc điệu, nay sửa lại.)

[10] Niên hiệu đời vua Kim Chương Tông 金章宗 (Hoàn Nhan Cảnh 完顏璟). Năm Ất Sửu tức 1205.
[11] Trị sở nay tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây.
[1] Bốn câu này là thay lời chú nhạn bay thoát khi thấy bạn bị giết.
[2] Chỉ nơi xưa Hán Vũ Đế từng tuần du tới tế thần, tại Phần Âm (thuộc Hà Đông, nay là phía tây nam Vạn Vinh, tỉnh Sơn Tây, do nằm ở phía nam sông Phần mà đặt tên). Năm Nguyên Đỉnh thứ 4 (119 tr.CN), trong một lần tới đây, ông có làm bài Thu phong từ 秋風辭, trong đó có những câu:
Phiếm lâu thuyền hề tế Phần hà,
Hoành trung lưu hề dương tố ba.
Tiêu cổ minh hề phát trạo ca,
Hoan lạc cực hề ai tình đa
汎樓船兮濟汾河,
橫中流兮揚素波。
簫鼓鳴兮發櫂歌,
歡樂極兮哀情多。
(Đi thuyền lầu chừ tới sông Phần,
Ngang qua dòng chừ sóng trắng nổi lên,
Tiêu trống ngân, tiếng ca chèo vang,
Khi vui vẻ kết thúc, lòng buồn lại nhiều.)
“Hoành Phần” ở đây còn ám chỉ chim nhạn. Lý Kiệu 李嶠 đời Đường trong bài Phần Âm hành 汾陰行 có câu “Bất kiến chỉ kim Phần thuỷ thượng, Duy hữu niên niên thu nhạn phi” 不見只今汾水上,惟有年年秋雁飛 (Không thấy ở trên sông Phần nay chỉ có, Bóng chim nhạn vẫn bay hằng năm khi thu về).
[3] Chỉ tiếng nhạc tiêu trống rộn rã trong bài Thu phong từ.
[4] “Sở” ở đây là bụi cây rậm rạp, “bình sở” tức rừng hoang trải rộng. Mấy câu ở đây ý nói, chốn này là nơi xưa bậc đế vương từng tới, tiêu trống rộn rã, nhưng nay đã thành hoang vu tịch mịch, khói hoang xen lẫn.
[5] Tên một thiên trong Sở từ, Tư Mã Thiên cho là Khuất Nguyên làm và nhiều học giả cho rằng để chiêu hồn Sở Hoài Vương, ở đây được nhắc tới với ý chiêu hồn chim nhạn. Tác giả nhắc tới Hán Vũ Đế và việc chiêu hồn Sở Hoài Vương còn ký thác lòng ưu hoài cố quốc.
[6] Thiên Chiêu hồn thường dùng chữ “ta” ở cuối mỗi câu, nhưng không mang ý nghĩa. Sau thường dùng “Sở ta” với ý nghĩa chiêu hồn.
[8] Thiên Phong vũ trong Kinh thi dùng mưa gió để chỉ lòng nhớ người quân tử.
[7] Tên một thiên trong Sở từ, trong đó có những câu:
Lôi điền điền hề vũ minh minh,
Viên thu thu hề dứu dạ minh.
Phong táp táp hề mộc tiêu tiêu,
Tư công tử hề đồ ly ưu.
雷填填兮雨冥冥,
猿啾啾兮狖夜鳴。
風颯颯兮木蕭蕭,
思公子兮徒離懮。
(Sấm ầm ầm chừ mưa mờ mịt,
Vượn hót dài chừ khỉ rú trong đêm.
Gió vù vù chừ cây thê thảm,
Nhớ công tử chừ trên đường đi đầy ưu tư.)
Cho nên ở bài này mới viết “ám đề phong vũ”.
[9] Chỉ thi nhân, chữ do bài Ly tao của Khuất Nguyên.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyên Hiếu Vấn » Mô ngư nhi - Nhạn khâu